Ngân hàng Thế giới dự báo giá năng lượng giảm 11% trong năm tới

07:40 | 27/10/2022

WB dự báo trung bình giá dầu Brent sẽ ở mức 92 USD/thùng trong năm 2023, giảm xuống 80 USD/thùng năm 2024 nhưng vẫn cao hơn đáng kể so với mức trung bình 5 năm là 60 USD/thùng.

ngan hang the gioi du bao gia nang luong giam 11 trong nam toi
Đường ống dẫn khí tại trạm nén khí Bulgartransgaz ở Ihtiman, Bulgaria. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Ngày 26/10, Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết giá năng lượng có thể giảm 11% vào năm 2023 sau khi tăng 60% trong năm nay.

Tuy nhiên, WB cũng không loại trừ khả năng giá năng lượng còn giảm sâu hơn trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại và nền kinh tế thứ 2 thế giới là Trung Quốc có thể tiếp tục chịu ảnh hưởng của các biện pháp hạn chế phòng dịch COVID-19.

Cụ thể, trong Báo cáo triển vọng thị trường hàng hóa mới nhất, WB dự báo trung bình giá dầu Brent sẽ ở mức 92 USD/thùng trong năm 2023, giảm xuống 80 USD/thùng năm 2024 nhưng vẫn cao hơn đáng kể so với mức trung bình 5 năm là 60 USD/thùng.

Theo báo cáo, xuất khẩu dầu mỏ của Nga có thể giảm khoảng 2 triệu thùng/ngày do ảnh hưởng từ lệnh cấm của Liên minh châu Âu (EU) với các sản phẩm dầu mỏ và khí đốt của nước này, cộng với những hạn chế về bảo hiểm và vận tải, sẽ có hiệu lực từ ngày 5/12.

Việc Nhóm các nước công nghiệp hàng đầu thế giới (G7) đề xuất áp trần giá dầu mỏ cũng sẽ ảnh hưởng tới lượng dầu xuất khẩu từ Nga nhưng biện pháp này cần sự tham gia của các thị trường mới nổi quy mô lớn và các nước đang phát triển mới có hiệu quả. WB gọi đây là cơ chế chưa được kiểm nghiệm.

Ngoài ra, báo cáo của WB cũng nêu rõ đồng USD tăng giá trong khi các đồng nội tệ của hầu hết các nước đang phát triển đều giảm giá đã khiến giá lương thực và nhiên liệu tăng.

Điều này làm trầm trọng thêm tình trạng mất an ninh lương thực hiện đã ảnh hưởng tới 200 triệu người trên toàn thế giới. Trưởng nhóm thực hiện báo cáo, Ayhan Kose, cho biết giá hàng hóa tăng mạnh kết hợp với tình trạng tiền trượt giá liên tục dẫn tới lạm phát cao tại nhiều quốc gia.

Theo ông Kose, thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển nên chuẩn bị đương đầu với một giai đoạn thậm chí còn nhiều biến động hơn trên các thị trường tài chính, hàng hóa toàn cầu. Tiền trượt giá khiến giá dầu trong nước tăng ở gần 60% các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển chuyên nhập khẩu dầu. Giá lúa mì ở gần 90% các nền kinh tế thuộc nhóm này cũng tăng mạnh hơn nếu tính ra nội tệ.

Trong 3 quý đầu năm 2022, trung bình lạm phát giá lương thực ở Nam Á là hơn 20%. Ở những khu vực khác, gồm Mỹ Latinh và Caribe, Trung Đông và Bắc Phi, phía Nam sa mạc Sahara, Đông Âu và Trung Á, trung bình lạm phát giá lương thực trong cùng giai đoạn là từ 12-15%.

Theo WB, dù đang "hạ nhiệt", nhưng giá năng lượng sẽ vẫn cao hơn 75% so với mức giá trung bình trong 5 năm qua. Giá khí đốt tự nhiên và than đá dự báo giảm trong năm 2023 từ các mức cao kỷ lục trong năm 2022. Tuy nhiên, đến năm 2024, than đá Australia và Mỹ vẫn sẽ cao gấp đôi so với giá trung bình trong 5 năm và giá khí đốt châu Âu có thể cao gần gấp 4 lần.

Trong khi đó, hoạt động khai thác than đá đang tăng đáng kể trong bối cảnh các nhà xuất khẩu lớn tăng mạnh sản lượng, gây nguy cơ đe dọa các mục tiêu chống biến đổi khí hậu liên quan loại nhiên liệu hóa thạch này.

Nguồn: TTXVN

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700