Ngân hàng trung ương Trung Quốc nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng

07:52 | 30/11/2022

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) sẽ cắt giảm thêm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng với mục tiêu duy trì thanh khoản dồi dào để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên nền kinh tế lớn thứ hai thế giới khó đạt mục tiêu tăng trưởng do đại dịch Covid-19 và sự yếu kém của thị trường bất động sản.

Nhiều biện pháp hỗ trợ tiền tệ

PBoC vừa cho biết sẽ cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại thêm 25 điểm cơ bản, đưa tỷ lệ trung bình xuống còn 7,8% từ ngày 5/12 tới. Động thái này sẽ giải phóng khoảng 500 tỷ nhân dân tệ (69,8 tỷ USD) thanh khoản dài hạn để hỗ trợ nền kinh tế đang chậm lại.

Đây là lần cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc thứ hai của PBoC trong năm nay. Trước đó vào tháng 4, PBoC cũng đã cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc 25 điểm cơ bản. Còn tính từ năm 2018 đến nay, PBoC đã thực hiện cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tới 13 lần, giảm tỷ lệ dự trữ trung bình xuống còn khoảng 8% từ 15%, giải phóng khoảng 10,8 nghìn tỷ nhân dân tệ (1,51 nghìn tỷ USD) thanh khoản vào nền kinh tế.

ngan hang trung uong trung quoc no luc thuc day tang truong
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc – PBoC

Bên cạnh đó theo các phương tiện truyền thông của Trung Quốc, để hỗ trợ thị trường nhà ở đang trì trệ, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh triển khai các khoản vay đặc biệt để giao nhà và khuyến khích các ngân hàng thương mại phát hành các khoản vay mới.

Economic Daily - một cơ quan truyền thông nhà nước của Trung Quốc cũng dẫn lời Phó thống đốc PBoC Pan Gongsheng cho biết, để hỗ trợ thị trường nhà ở đang trì trệ, BPoC sẽ cung cấp khoản vay 200 tỷ nhân dân tệ (27,93 tỷ USD) cho 6 ngân hàng thương mại để hoàn thiện nhà ở.

Trong một nỗ lực phối hợp để hỗ trợ lĩnh vực bất động sản đang gặp khó khăn, ba trong số các ngân hàng thương mại lớn nhất của Trung Quốc cũng đã đồng ý cung cấp hỗ trợ gây quỹ cho các nhà phát triển bất động sản.

PBoC cũng đã đưa ra một thông báo phác thảo 16 bước để hỗ trợ ngành bất động sản, bao gồm gia hạn trả nợ, trong một nỗ lực lớn nhằm giảm bớt khủng hoảng thanh khoản đã gây khó khăn cho ngành kể từ giữa năm 2020.

Tuy nhiên theo các chuyên gia kinh tế, PBoC đang phải đối mặt với tình thế khó khăn khi mà vừa muốn hỗ trợ nền kinh tế, nhưng không thể giảm mạnh lãi suất do lo ngại đồng nội tệ suy yếu và dòng vốn chảy ra trong bối cảnh nhiều NHTW lớn khác, đặc biệt là Fed đang tăng mạnh lãi suất. Bằng chứng là hôm 20/11 vừa qua, PBoC đã quyết định giữ nguyên các mức lãi suất cho vay chuẩn (LPR) trong tháng thứ 3 liên tiếp.

Tăng trưởng khó đạt mục tiêu

Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chỉ tăng trưởng 3% trong ba quý đầu năm nay, thấp hơn nhiều so với mục tiêu tăng trưởng 5,5% mà nước này đề ra cho năm nay. Bởi vậy theo cuộc họp của Hội đồng Nhà nước do Thủ tướng Lý Khắc Cường chủ trì mới đây, hoạt động kinh tế trong quý IV "rất quan trọng đối với tăng trưởng cả năm". "Chúng tôi sẽ sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ như cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc một cách kịp thời và phù hợp để duy trì thanh khoản hợp lý và đầy đủ".

Tuy nhiên nền kinh tế Trung Quốc chậm lại trên diện rộng trong tháng 10 và số ca nhiễm Covid-19 mới tăng đột biến gần đây, cộng thêm sự trì trệ của thị trường bất động sản đã làm gia tăng mối quan ngại về tốc độ tăng trưởng của nước này trong quý cuối cùng của năm 2022.

Kết quả cuộc khảo sát mới đây của Reuters cũng cho thấy, hoạt động sản xuất của các nhà máy Trung Quốc dự kiến sẽ tiếp tục giảm trong tháng này, gây áp lực lên nền kinh tế khi các biện pháp hạn chế để ngăn ngừa dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến sản xuất và xuất khẩu.

Cụ thể theo dự báo trung bình của các nhà kinh tế tham gia cuộc khảo sát của Reuters, chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) chính thức của ngành sản xuất (tập trung vào các doanh nghiệp lớn thuộc sở hữu nhà nước) được dự báo ở mức 49,0 trong tháng 11 so với 49,2 trong tháng 10 (mức dưới 50 điểm cho thấy sản xuất bị thu hẹp).

Chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất Caixin của khu vực tư nhân (tập trung nhiều hơn vào các doanh nghiệp nhỏ và khu vực ven biển) cũng được dự báo sẽ giảm xuống còn 48,9 điểm từ mức 49,2 điểm của tháng 10.

Với diễn biến hiện tại các nhà phân tích dự báo nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chỉ tăng trưởng khoảng hơn 3% trong năm nay.

Trong khi các cố vấn Trung Quốc cho biết họ sẽ đề xuất mục tiêu tăng trưởng khiêm tốn cho năm 2023, từ 4,5% đến 5,5% tại cuộc họp thường niên của các nhà hoạch định chính sách vào tháng 12.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700