Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp cá nhân: Có cần sớm định dạng lại?

10:12 | 28/04/2022

Bộ Tài chính đang khẩn trương trình Chính phủ sửa đổi quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ (TPDN) tại nghị định số 153/2020/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 153) theo hướng siết chặt một cách hợp lý.    

Theo tìm hiểu, tài liệu thẩm định dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 153 đang chờ ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp trước khi chính thức trình Chính phủ phê duyệt.

Trong nội dung tài liệu được gửi ngày 20/4/2022, Bộ Tài chính đã rất cầu thị khi phân tích, đánh giá "thẳng thắn" về tình trạng phát hành, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp thời gian vừa qua, đồng thời ghi nhận các ý kiến góp ý của các bên liên quan nhằm tìm giải pháp hợp lý để khắc phục các mặt hạn chế.

nha dau tu chung khoan chuyen nghiep ca nhan can som dinh dang lai
 

Nghị định 153 sửa đổi được kỳ vọng sẽ làm lành mạnh hơn thị trường TPDN, nhất là TPDN phát hành riêng lẻ dựa trên cơ sở nâng cao điều kiện và tiêu chuẩn phát hành; trách nhiệm của tổ chức phát hành, tổ chức tư vấn, tổ chức bảo lãnh và đặc biệt là tăng cường bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư cá nhân.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, các công ty chứng khoán (CTCK) và các tổ chức tín dụng (TCTD) là những nhà đầu tư chính mua TPDN trong năm 2021, chiếm 72,3% tổng khối lượng phát hành (trong đó, TCTD mua 37,87% và CTCK mua 34,47%); tỷ trọng mua TPDN của các nhà đầu tư cá nhân chiếm 5,39% tổng khối lượng phát hành, giảm mạnh so với tỷ lệ mua của nhà đầu tư cá nhân năm 2020 (bình quân 12,7%).

Tuy nhiên, trên thị trường thứ cấp, tỷ lệ nắm giữ của các nhà đầu tư cá nhân cao hơn tỷ lệ mua trên thị trường sơ cấp. Tại thời điểm cuối năm 2021, theo báo cáo của các tổ chức lưu ký, TPDN chủ yếu do các TCTD và nhà đầu tư cá nhân nắm giữ, chiếm lần lượt là 48,8% và 26,3% dư nợ trái phiếu phát hành năm 2021.

Như vậy, nhà đầu tư cá nhân có xu hướng giảm việc mua trên thị trường sơ cấp và mua mạnh ở thị trường thứ cấp. Đối với toàn thị trường TPDN riêng lẻ, tính đến 31/12/2021, nhà đầu tư cá nhân nắm giữ 43,1% dư nợ trái phiếu, các TCTD nắm giữ 33,5%. Khối lượng giao dịch trên cơ sở báo cáo của 45 tổ chức đăng ký, lưu ký trong năm 2021 là 1.846,37 nghìn tỷ đồng, khối lượng giao dịch bình quân là 7.385 tỷ đồng/ngày, chủ yếu giữa các CTCK, TCTD và nhà đầu tư cá nhân.

Qua các số liệu này có thể thấy, thị trường giao dịch trái phiếu doanh nghiệp đang rất tiềm năng khi thu hút được nhiều nhà đầu tư cá nhân, nhưng việc "lách luật" khi xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp để chào mời các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ mua TPDN riêng lẻ khi chưa tiếp cận đầy đủ thông tin về doanh nghiệp phát hành, thiếu khả năng phân tích, đánh giá là rất rủi ro với thị trường.

Để khắc phục điều này trong khi chờ Luật Chứng khoán chưa được rà soát, sửa đổi thì Nghị định 153 sửa đổi đã bổ sung thêm điều kiện để xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp với cá nhân là :“Riêng đối với cá nhân, trong thời gian tối thiểu 2 năm liền trước khi thực hiện giao dịch phải nắm giữ và duy trì danh mục chứng khoán niêm yết, đăng ký giao dịch (không bao gồm chứng khoán từ tài khoản ký quỹ và chứng khoán mua bán có kỳ hạn) có giá trị tối thiểu theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 11 Luật Chứng khoán”.

Trao đổi về quy định này, anh T, một nhà đầu tư lâu năm trong lĩnh vực chứng khoán, chỉ ra rằng quy định mới này chưa phù hợp với thực tế thị trường và thậm chí dễ gây hiểu lầm, làm khó cho cả nhà đầu tư và tổ chức khi xác định nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Cụ thể, anh T giải thích rằng: “Thị trường chứng khoán luôn biến động, vì thế các nhà đầu tư cũng phải phân bổ vốn và lựa chọn thời điểm tham gia thị trường. Khi thị trường lên, họ có thể bỏ thêm nhiều tiền vào để đầu tư nhưng khi thị trường xuống như trong tháng 4 vừa qua thì các nhà đầu tư chuyên nghiệp hoàn toàn có thể nhận định và bán hết cổ phiếu, tạm rút ra khỏi thị trường. Vì thế, việc phải nắm giữ và duy trì danh mục chứng khoán có giá trị tối thiểu 2 tỷ đồng trong tối thiếu 2 năm đối với nhà đầu tư cá nhân là hiếm gặp, trừ khi họ là cổ đông lớn, lãnh đạo doanh nghiệp”.

Theo quy định của Luật Chứng khoán, tài khoản giao dịch ký quỹ hay tài khoản giao dịch phái sinh phải tách biệt với tài khoản thường hoặc được hạch toán dưới dạng tiểu khoản của tài khoản thường. Và trên thực tế, hầu hết các công ty chứng khoán đều chọn cách hạch toán dưới dạng tiểu khoản để dễ dàng quản lý tài khoản của nhà đầu tư. Nếu như không tính chứng khoán trong tài khoản ký quỹ hay chứng khoán mua bán kỳ hạn vào tài sản của nhà đầu tư thì sẽ vô tình “đánh rơi” nhiều nhà đầu tư trái phiếu tiềm năng. Đặc biệt, hiện nay nhà đầu tư còn mở tài khoản giao dịch chứng khoán ở nhiều công ty chứng khoán khác nhau nên việc tổng hợp tài sản để chứng minh cũng là rất khó khăn.

Cũng theo anh T, đối với nhà đầu tư cá nhân (không phải là người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán) thì việc xác định tư cách nhà đầu tư chuyên nghiệp dựa trên giá trị đầu tư tối thiếu 2 tỷ đồng hay có thu nhập chịu thuế tối thiếu 1 tỷ đồng cần phải xem xét lại vì nó chỉ thể hiện về năng lực tài chính cá nhân chứ chưa phản ánh được năng lực đánh giá rủi ro thị trường.

Theo đó, khái niệm nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp đối với trường hợp là cá nhân hiện nay chưa phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường và định hướng chính sách. Cơ quan quản lý thị trường đã xác định mục tiêu đưa vào vận hành thị trường giao dịch trái phiếu chuyên biệt vào cuối năm 2022 để tăng tính minh bạch, cũng như tạo nền tảng phát triển thị trường trái phiếu nhằm huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, thị trường chỉ có thể phát triển nếu có nhiều nhà đầu tư tham gia giao dịch và họ phải có hiểu biết, chuyên môn với chứng khoán.

Một số tiêu chí có thể xem xét để đưa thêm vào điều kiện xác định nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp với cá nhân như: có bằng cấp chuyên môn trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng; có thời gian tham gia đầu tư chứng khoán tối thiểu 12 tháng (dựa trên sao kê lịch sử giao dịch) hoặc nếu sử dụng giá trị danh mục đầu tư chứng khoán thì cần sử dụng chỉ tiêu giá trị tài sản ròng (NAV) tối thiếu 2 tỷ đồng.

Hoạt động phát hành trái phiếu còn nhiều vấn đề bất cập và tồn tại rủi ro, nhưng việc phát triển thị trường trái phiếu nói chung và trái phiếu phát hành riêng lẻ nói riêng là chủ trương đúng đắn theo xu thế chung của thế giới.

Thực tế đã chứng minh khi hoạt động của thị trường trái phiếu phát triển thì thị trường tín dụng đã được giảm tải và lãi suất cho vay có xu hướng ổn định. Vì vậy, việc khuyến khích nhà đầu tư cá nhân tham gia đầu tư vào thị trường trái phiếu cần được tạo điều kiện bằng quy định phù hợp.

Tân An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.210 23.520 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.225 23.505 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.220 23.520 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.200 23.490 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.260 23.480 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.480 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.255 23.707 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.234 23.520 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.210 23.490 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.280 23.530 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.650
68.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.650
68.250
Vàng SJC 5c
67.650
68.270
Vàng nhẫn 9999
52.200
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.750