Nhà văn Ngô Văn Phú: Không chỉ có “trên trời mây trắng như bông”

08:25 | 31/05/2022

Lâu nay, nhiều người đã thuộc lòng bốn câu thơ “Trên trời mây trắng như bông/Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây/Mấy cô má đỏ hây hây/Đội bông như thể đội mây về làng” nhưng cứ nghĩ đó là ca dao. Vì nó quá quen thuộc, gần gũi. Nhưng thực tế, đó là thơ của nhà thơ Ngô Văn Phú.

Thơ Ngô Văn Phú hồn hậu như con người của ông. Ông đã xuất bản nhiều tập thơ: “Tháng năm mùa gặt” (1978); “Đi ngang đồi cọ” (1986); “Hoa trắng tình yêu” (1995)… Trong đó, tôi ấn tượng với tập thơ “Chiêm bao” xuất bản năm 2001. Một tập thơ bốn câu khá tiêu biểu của cuộc đời thi nhân Ngô Văn Phú. Bài thơ “Mây và bông” với bốn câu thơ nổi tiếng vừa dẫn ở trên được nhà thơ viết năm 1961. Dường như nó có tác động đến xu hướng viết ngắn và cô đọng của nhà thơ trong những chặng viết sau này.

nha van ngo van phu khong chi co tren troi may trang nhu bong
Nhà thơ Ngô Văn Phú

Trong bài “Cỏ chiêm bao”: “Có lúc chiêm bao mình hóa cỏ/Xanh từ xuân Hạ đến thu Đông/Quên đi những miếng cơm manh áo/Quẩn đến rồi đi, đến nát lòng”.

Nhà thơ cho rằng, thơ bốn câu (tứ tuyệt) như bông hoa, chợt với tay mà hái được. Âm vang, ngắn mà đọng, dọc mà ngang, ngang mà dọc. Thơ đi như một mảnh sao băng, sáng lóe rồi để dư âm trong bầu trời đêm man mác.

Những tứ thơ ngắn thường đến bất chợt, mà nói như nhà thơ Ngô Văn Phú, “thơ đến như một ngọn gió tươi làm bừng tỉnh thi hứng; như một ngọn cỏ một sớm tỏa ấm trên quầng đất thân tình; như dáng núi tự mình tạo ra sức sống của mùa xuân…”.

Nhưng chính ông, cũng dăn mình rằng, thơ tứ tuyệt đã có bề dày hàng ngàn năm. Và ông “vừa sợ hãi vừa liều lĩnh dấn thân vào cõi thơ huyền bí này, lấy tâm thành mà viết…”. Bởi ông muốn đặt một dấu chân vào hàng nghìn hàng vạn dấu chân người đi trước đã mê thơ tứ tuyệt.

Và ít nhiều, ông đã để lại dấu ấn của mình trong “cõi thơ huyền bí” ấy. Để nhớ tới ông, người yêu thơ vẫn nhớ được vài ba bài.

Nhưng Ngô Văn Phú không chỉ nổi tiếng với những bài thơ, ông còn được mệnh danh là người viết truyện lịch sử nhiều nhất Việt Nam. Tên tuổi ông gắn liền với nhiều tập tiểu thuyết dã sử, truyện ngắn, truyện vừa: “Ngõ trúc” (truyện ngắn về danh nhân, 1986); “Bụi và lốc” (tiểu thuyết, 1988); “Ngôi vua và những chuyện tình” (tiểu thuyết lịch sử, 1990); “Gươm thần Vạn Kiếp” (tiểu thuyết lịch sử, 1991); “Ngang trái Phủ Tây Hồ” (tiểu thuyết lịch sử, 1993); “Tuyên Phi họ Đặng” (1996); “Sao không là tình yêu”? (1996)…

Một lần vui vẻ bên chén trà trong căn hộ ở khu tập thể Giảng Võ (Hà Nội), ông cười thống kê đã viết hơn 30 cuốn, trong đó hơn 10 cuốn là tiểu thuyết, còn lại là truyện ngắn. Để viết được từng đó, ông đã tìm hiểu khoảng 150 nhân vật lịch sử để đưa vào tác phẩm của mình. Đó là Lê Hoàn, Phùng Hưng, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Nguyễn Khuyến... Toàn là người nổi tiếng, đã làm nên những trang sử vàng son của dân tộc ta.

Tác phẩm đầu tiên nhà văn Ngô Văn Phú viết về lịch sử đó là cuốn “Ngõ trúc”. Ông lấy ý từ câu thơ “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” của Nguyễn Khuyến để viết về chính cụ Tam Nguyên Yên Đổ - một nhà nho, một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. “Tôi vẫn còn nhớ, cuốn sách đó được họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ minh họa và được nhà văn Nguyễn Tuân rất khen ngợi làm cho tôi cảm thấy hứng khởi với đề tài này”, nhà văn Ngô Văn Phú nhớ lại.

Sự khích lệ của các bậc tài danh đi trước đã giúp ông bền bỉ với đề tài lịch sử. Nhưng bản thân ông, trong tư cách nhà văn, thấy rằng đề tài lịch sử là mảng rất khó, bởi vậy ít người viết. Điều đó thúc giục ông dấn bước.

“Báo chí từng nêu vấn đề rằng, trẻ em bây giờ thiếu kiến thức về lịch sử nước nhà một cách nghiêm trọng. Sách về lịch sử là một nguồn học cần thiết cho các em, nhưng sách truyện về lịch sử với đặc trưng của văn học sẽ giúp nhân dân ta thêm một cách tiếp cận với lịch sử, để hiểu và trân trọng những gì mà lớp lớp cha ông mình đã phải đánh đổi để giữ gìn và xây dựng được Tổ quốc như ngày nay. Bên cạnh đó, từ những câu chuyện, những bài học đã được đúc rút từ ngàn năm lịch sử, tôi cũng muốn gửi gắm vào đó những tâm sự, những quan niệm về đối nhân xử thế, về những bài học làm người đối với xã hội hiện đại”, nhà văn tâm sự.

Nhà văn Ngô Văn Phú đã được nhận: Giải thưởng thơ tạp chí Văn nghệ năm 1961; Giải thưởng văn xuôi báo Văn học; Giải thưởng ca dao của báo Văn học, 1962; Giải thưởng văn học 5 năm của Hội Văn nghệ Hà Nội (1980-1985); Giải thưởng 5 năm Văn học Hùng Vương của Hội Văn nghệ Vĩnh Phú (1975-1980)...

Theo nhà văn Ngô Văn Phú, viết cái gì cũng cần có thời gian để suy nghĩ tìm tòi cách thể hiện ý tưởng. Song, với truyện lịch sử, cái khó nhất cũng là cái khác biệt nhất so với truyện hiện đại đó là việc tìm tư liệu. Bởi không phải bất cứ nhân vật nào cũng có tư liệu đầy đủ. Trước hết phải tìm bằng được ghi chép về họ trong chính sử để đảm bảo rằng việc mình viết trong tác phẩm của mình về họ là hoàn toàn có thật.

Ông cũng cho rằng, sáng tác là tự do của mỗi cá nhân, không ai có thể cấm đoán, nhưng riêng về vấn đề lịch sử thì tất cả mọi lý giải, suy luận và góc nhìn của tác giả phải chấp nhận được. Nhất là viết về một danh nhân lịch sử nào đó, tên tuổi, sự nghiệp, phẩm giá, tư cách, tài năng của họ đã được lịch sử khẳng định như những biểu tượng, vì vậy khi sáng tạo về họ không được vượt quá những khuôn khổ bền vững mà lịch sử đã đúc nên.

Nhà văn - nhà thơ Ngô Văn Phú, sinh ngày 8/4/1937 tại Nam Viêm, Mê Linh, Vĩnh Phúc (nay là Nam Viêm, Phúc Yên, Vĩnh Phúc). Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1970. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (ngành Ngữ văn), Ngô Văn Phú về làm biên tập viên báo Văn học (1961-1963); Báo Văn nghệ (1963-1966); biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Năm 1972 ông giải ngũ; từ năm 1972 đến 1976 phụ trách Tổ thơ và Tổ văn xuôi, Báo Văn nghệ. Từ năm 1976 đến 1998 là Trưởng ban Thơ, rồi Phó giám đốc NXB Tác phẩm mới, Tổng biên tập NXB Hội Nhà văn.

Không chỉ viết thơ, truyện, tiểu thuyết lịch sử, nhà văn Ngô Văn Phú còn làm biên khảo, biên soạn, chủ biên nhiều đầu sách. Thống kê sơ sơ thôi ông cũng là tác giả của khoảng 230 cuốn đứng tên là tác giả. Còn nếu kể cả những cuốn sách in chung thì chính ông cũng không nhớ được chính xác.

Thanh Xuân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.560 23.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.580 23.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.560 23.860 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.840 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.560 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.580 23.975 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.568 23.870 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.630 23.880 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.600
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.600
66.400
Vàng SJC 5c
65.600
66.420
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
50.200
50.800