NHCSXH và chính sách tín dụng là trụ cột của giảm nghèo bền vững

20:49 | 23/09/2019

Là công cụ nòng cốt trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững, tín dụng chính sách đã giúp cho hàng triệu hộ thoát nghèo trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay.

Chính sách tín dụng tạo sự chuyển biến mạnh mẽ ở các vùng nghèo
Dù khó đến mấy cũng phải dành vốn cho người nghèo

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về vai trò, hiệu quả tín dụng chính sách trong thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững, do Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia tổ chức ngày 23/9, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban chỉ đạo đã ghi nhận hiệu quả của tín dụng chính sách trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Cùng tham dự còn có lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, Ủy ban của Quốc hội và lãnh đạo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước.

Thay đổi cách nghĩ, cách làm của người dân

Với vai trò đơn vị đi đầu trong triển khai thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã góp phần bảo đảm an sinh xã hội trong 17 năm qua.

Tổng giám đốc NHCSXH Dương Quyết Thắng cho biết, hiện nay có hơn 20 chương trình tín dụng chính sách xã hội đã và đang triển khai thực hiện; và một số chương trình, dự án do các địa phương, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủy thác cho NHCSXH thực hiện. Trong giai đoạn 2016 đến 31/8/2019, tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân hàng năm đạt 9,7%, với trên 6,6 triệu khách hàng còn dư nợ.

Với gần 11.000 điểm giao dịch tại các xã, phường, thị trấn trong toàn quốc và gần 200.000 tổ tiết kiệm và vay vốn hoạt động tại 100% thôn, ấp, bản, làng, NHCSXH đã thực hiện vốn tín dụng chính sách đến 100% xã, phường, thị trấn trên toàn quốc, trong đó tập trung ưu tiên cho vay khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới.

Cũng trong giai đoạn này, đã có gần 8 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH; góp phần giúp trên 1,4 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho trên 775.000 lao động; gần 200.000 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng gần 4,9 triệu công trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn; trên 108.000 căn nhà ở cho hộ nghèo.

Cùng với đó, chất lượng tín dụng chính sách xã hội tiếp tục được nâng cao, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh của toàn hệ thống NHCSXH tại thời điểm 31/8/2019 còn 0,75% (nợ quá hạn 0,42%, nợ khoanh 0,33%).

“Có thể khẳng định tín dụng chính sách xã hội đã đạt hiệu quả tích cực, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân", ông Dương Quyết Thắng nhấn mạnh.

Là một trong những đơn vị hỗ trợ đắc lực cho NHCSXH, 5 năm qua, nguồn vốn tín dụng chính sách được ủy thác qua Hội Nông dân đã giúp cho trên 3 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn phát triển sản xuất. Bên cạnh đó, còn có hơn 132.000 em học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn đi học, tạo việc làm cho trên 12.000 lượt lao động, trên 2 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, và hơn 115.000 căn nhà cho hộ nghèo được xây dựng,...

Ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam khẳng định, tín dụng chính sách được đưa đến đúng địa chỉ đã góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 từ 5,97% xuống còn 5,5% vào cuối năm 2018 và thiết thực đóng góp xây dựng nông thôn mới.

“Các chương trình tín dụng chính sách làm thay đổi cách nghĩ, cách làm của người dân. Từ việc thụ động trong lề lối canh tác ruộng vườn, chăn nuôi đã biết cách lựa chọn những mô hình kinh tế phù hợp và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật lồng ghép với sử dụng vốn vay đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống”, ông Định cho biết thêm.

Ông Nguyễn Văn Yên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng chia sẻ, từ3 chương trình tín dụng chính sách nhận bàn giao năm 2003, đến nay chi nhánh NHCSXH tỉnh đã và đang triển khai thực hiện 13 chương trình, tăng 3 chương trình so với năm 2015. Tổng dư nợ 13 chương trình tín dụng chính sách đến 30/06/2019 đạt 3.227 tỷ đồng, tăng 36,2% so với năm 2015.

Với sự đa dạng về đối tượng thụ hưởng, tín dụng chính sách đã góp phần quan trọng trong Chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững tại địa phương. Ông Yên chia sẻ, trước hết, đây là nguồn lực để hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác phát triển sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là nguồn vốn hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh, cá nhân trong khởi nghiệp cũng như thu hút việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho người lao động.

Bên cạnh đó, đây là nguồn vốn để hộ nghèo có thể sử dụng cùng với các nguồn lực khác để làm nhà ở, xóa nhà tạm, cải thiện môi trường sống. Đồng thời, nguồn vốn tín dụng chính sách rất quan trọng để cho con em hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn được bảo đảm việc học tập, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương.

“Có thể khẳng định tín dụng chính sách xã hội góp phần tăng cường vai trò quản lý của chính quyền địa phương và là cầu nối và tạo điều kiện phát huy chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị - xã hội”, ông Yên cho hay.

Tổng Giám đốc NHCSXH Dương Quyết Thắng: Tín dụng chính sách đã đạt hiệu quả tích cực, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Ảnh: VGP

Tổ chức huy động tốt các nguồn lực cho tín dụng chính sách xã hội

Ghi nhận hiệu quả của tín dụng chính sách trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, song Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia lưu ý, trước giai đoạn mới nhiều khó khăn, thách thức, việc triển khai tín dụng chính sách vào đời sống cần có sự đổi mới, nâng cao hơn nữa vai trò của cả hệ thống chính trị để cùng chung tay gánh vác với hệ thống ngân hàng.

Phó Thủ tướng đánh giá, NHCSXH và chính sách tín dụng là một trụ cột quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững. Nhờ trụ cột này, giai đoạn 2015 – 2018, số hộ nghèo giảm rất nhanh, góp phần đẩy lùi, ngăn chặn tín dụng đen, tạo nguồn lực cho các địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững gắn với các đề án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.

Theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, chính sách tín dụng cho hộ nghèo là chính sách được triển khai rộng rãi nhất, đáp ứng một lượng lớn nhu cầu vốn cho người nghèo, tác động trực tiếp và mang lại hiệu quả thiết thực, là điểm sáng trong các chính sách giảm nghèo. Đây cũng là chính sách xây dựng được mối liên kết tốt giữa Nhà nước – thông qua NHCSXH – với các tổ chức đoàn thể và người nghèo, phát huy được tính chủ động, nâng cao trách nhiệm của người nghèo đối với chính quyền cơ sở qua việc giữ mối liên hệ, hướng dẫn làm ăn, đôn đốc giải ngân, thu nợ của ngân hàng.

Song Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cũng chỉ ra các mặt còn tồn tại, trong đó có việc vốn của địa phương ủy thác qua NHCSXH còn rất hạn chế, chỉ đạt hơn 14.500 tỷ đồng, chiếm 6,8% tổng nguồn vốn; trong đó, riêng Hà Nội là gần 2.873 tỷ đồng, Thành phố Hồ Chí Minh 1.687 tỷ đồng, Bình Dương 1.190 tỷ đồng. Cả nước chỉ có 32/63 tỉnh có mức ủy thác qua NHCSXH trên 100 tỷ đồng.

Từ thực tế trên, Phó Thủ tướng đề nghị các địa phương tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền với hoạt động tín dụng chính sách xã hội, coi đây là một trong những nhiệm vụ trong chương trình, kế hoạch, hoạt động thường  xuyên của các cấp ủy, các ngành, địa phương; tổ chức huy động tốt các nguồn lực cho tín dụng chính sách xã hội, gắn phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm, bảo đảm  an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững.

Phó Thủ tướng cũng cho rằng, cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội, nâng cao hiệu quả giám sát của toàn dân với công tác này. Tập trung huy động nguồn lực và hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm thực hiện có hiệu quả hơn tín dụng chính sách từ nay đến năm 2020 và giai đoạn 2021 – 2025.

Đồng thời, tập trung các nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước vào một đầu mối là NHCSXH, phân biệt rõ ràng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, các hoạt động cho vay theo chính sách tài khóa này đều phải được cấp bù lãi suất, cấp chi phí quản lý cho NHCSXH. 

Khanh Đoàn

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950