Những chuyển biến tích cực trên thị trường lao động quý III và 9 tháng đầu năm 2022

14:42 | 06/10/2022

Trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục đà khởi sắc, thị trường lao động quý III/2022 tiếp tục duy trì đà phục hồi. Lực lượng lao động, số người có việc làm, thu nhập bình quân/tháng đều tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tiếp tục giảm nhẹ, theo báo cáo Tình hình lao động việc làm quý III và 9 tháng năm 2022 vừa được Tổng cục Thống kê công bố ngày 6/10.

nhung chuyen bien tich cuc tren thi truong lao dong quy iii va 9 thang dau nam 2022 Nhộn nhịp thị trường lao động cuối năm
nhung chuyen bien tich cuc tren thi truong lao dong quy iii va 9 thang dau nam 2022 Đề xuất bổ sung chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động

Lực lượng lao động, số người có việc làm đều tăng

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý III/2022 là 51,9 triệu người, tăng hơn 0,2 triệu người so với quý trước và tăng gần 2,8 triệu người so với cùng kỳ năm trước. So với cùng kỳ năm trước, lực lượng lao động tăng mạnh ở cả hai khu vực thành thị và khu vực nông thôn, tương ứng tăng lần lượt là 1,3 triệu người và 1,5 triệu người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý III/2022 là 26,3%, cao hơn 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và hơn 0,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

nhung chuyen bien tich cuc tren thi truong lao dong quy iii va 9 thang dau nam 2022

Như vậy đến hết 9 tháng năm 2022, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 51,6 triệu người, cao hơn 1,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 9 tháng năm 2022 là 68,5%, tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp” trở lên ước tính là 13,5 triệu người, chiếm 26,2%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý III, số người từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 50,8 triệu người, tăng 255,2 nghìn người so với quý trước và tăng 3,5 triệu người so với quý III/2021 (quý chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19).

Trong đó, lao động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 39,0%, tương đương 19,8 triệu người; tiếp đến là lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 33,4%, tương đương gần 17,0 triệu người. Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất, 27,6%, tương đương 14,0 triệu người. Tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng tăng nhẹ so với quý trước (tăng 0,1 điểm phần trăm).

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp quý III là 54,1%, giảm 1,5 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ phi chính thức giảm mạnh ở khu vực thành thị, tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 45,4%, giảm 2,1 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 61,4%, giảm 0,9 điểm phần trăm so với với quý trước và giảm 0,4 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước.

Đến hết 9 tháng năm 2022, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong 9 tháng năm 2022 là 50,5 triệu người, tăng 1,5 triệu người so với 9 tháng năm 2021. Số lao động có việc làm ghi nhận tăng ở cả khu vực thành thị và nông thôn cũng như ở nam giới và nữ giới, tuy nhiên sự tăng lên này chủ yếu ở khu vực thành thị và ở nam giới, số lao động có việc làm ở khu vực thành thị là 18,7 triệu người, tăng 1,1 triệu người và ở nam giới là 26,8 triệu người, tăng 806,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 13,9 triệu người, (chiếm 27,6%), giảm 162,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,9 triệu người (chiếm 33,4%), tăng 726,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số có việc làm với tỷ trọng 39,0%, tương ứng là 19,7 triệu người, tăng 895,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp của cả nước trong 9 tháng năm 2022 là 55,3%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ở khu vực thành thị là 47,0%, giảm 0,8 điểm phần trăm, và ở khu vực nông thôn, tỷ lệ này là 62,2% giảm gần 1,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Thu nhập bình quân tháng tăng mạnh

Thu nhập bình quân tháng của người lao động quý III/2022 là 6,7 triệu đồng, tăng 143 nghìn đồng so với quý trước. So với cùng kỳ năm 2021, khi dịch Covid-19 đang diễn biến rất phức tạp ở nhiều địa phương, thu nhập bình quân của người lao động quý III/2022 chứng kiến tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, tăng 30,1%, tương ứng tăng khoảng 1,6 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2019, trước khi dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam, đời sống của người lao động đã trở lại trạng thái bình thường mới và được đảm bảo hơn, với thu nhập bình quân của người lao động III năm 2022 tăng cao, tăng 14,5%, tương ứng tăng khoảng 854 nghìn đồng.

nhung chuyen bien tich cuc tren thi truong lao dong quy iii va 9 thang dau nam 2022

Quý III/2022, thu nhập bình quân của lao động làm việc ở cả ba khu vực kinh tế đều có mức tăng trưởng vượt trội so với cùng kỳ năm 2021. Lao động làm việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng thu nhập bình quân cao nhất trong ba khu vực kinh tế.

Cụ thể so với cùng kỳ năm 2021, thu nhập bình quân tháng của lao động làm việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng; ngành dịch vụ và ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản lần lượt là: 7,7 triệu đồng, tăng 31,9%, tăng tương ứng khoảng 1,9 triệu đồng; 8,0 triệu đồng, tăng 29,4%, tăng tương ứng khoảng 1,8 triệu đồng; 3,9 triệu đồng, tăng 16,6%, tăng tương ứng khoảng 558 nghìn đồng.

Thu nhập bình quân của người lao động 9 tháng năm 2022 là 6,6 triệu đồng, tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2021, tăng 12,4%, tương ứng tăng 727 nghìn đồng; so với cùng kỳ năm 2019, khi dịch Covid-19 chưa xuất hiện thu nhập bình quân của người lao động 9 tháng năm 2022 tăng 11,8%, tương ứng tăng 693 nghìn đồng.

Cả ba khu vực kinh tế đều ghi nhận thu nhập bình quân của người lao động tăng. Trong đó, thu nhập tăng mạnh nhất ở khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 13,7% so với 9 tháng năm 2021, tương ứng tăng khoảng 901 nghìn đồng. Tiếp đến là lao động làm việc trong khu vực dịch vụ tăng 11,5%, tương ứng tăng 805 nghìn đồng. Lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng thu nhập bình quân thấp nhất, tăng 7,6%, tương ứng tăng 271 nghìn đồng.

Thiếu việc làm và thất nghiệp giảm

Bên cạnh số người có việc làm tăng lên so với quý trước và cùng kỳ năm trước, thì số thiếu việc làm đã giảm đi so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Cụ thể, số người thiếu việc làm trong độ tuổi quý III/2022 là khoảng 871,6 nghìn người, giảm 10,1 nghìn người so với quý trước và đặc biệt giảm 993,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý này là 1,92%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 2,54 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị thấp hơn so với khu vực nông thôn (tương ứng là 1,48% và 2,20%). Như vậy, tình hình thiếu việc làm của người lao động tiếp tục được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn cao hơn cùng kỳ trước khi dịch Covid-19 xuất hiện (tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý III năm 2019 là 1,32%).

Thiếu việc làm trong độ tuổi 9 tháng năm 2022 là gần 1,03 triệu người, giảm 293 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 9 tháng năm 2022 là 2,29%, giảm 0,77 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn (tương ứng là 1,75% và 2,63%).

Cùng với đó, tình hình thất nghiệp trong độ tuổi lao động tiếp tục duy trì xu hướng giảm so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Cụ thể, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III/2022 là gần 1,06 triệu người, giảm 13,9 nghìn người so với quý trước và giảm 658,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III/2022 là 2,28%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,70 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

nhung chuyen bien tich cuc tren thi truong lao dong quy iii va 9 thang dau nam 2022

Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động 9 tháng năm 2022 là gần 1,08 triệu người, giảm 251 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 9 tháng năm 2022 là 2,35%, giảm 0,64 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700