Phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội cần đặt trong chiến lược tài chính toàn diện

08:00 | 22/03/2021

Đó là phát biểu của Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú, Ủy viên Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tại Hội thảo khoa học với chủ đề: “Chiến lược phát triển NHCSXH giai đoạn 2021 - 2030”. Hội thảo do NHCSXH phối hợp với Học viện Ngân hàng tổ chức cuối tuần qua.

phat trien ngan hang chinh sach xa hoi can dat trong chien luoc tai chinh toan dien Sửa quy định về xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội
phat trien ngan hang chinh sach xa hoi can dat trong chien luoc tai chinh toan dien Ngân hàng Chính sách xã hội: Thấu hiểu lòng dân, tận tâm phục vụ
phat trien ngan hang chinh sach xa hoi can dat trong chien luoc tai chinh toan dien Ngân hàng Chính sách xã hội: Chiến lược 10 năm với bước tiến vượt bậc

Trụ cột quan trọng của chương trình giảm nghèo bền vững

Nhìn lại kết quả hoạt động giai đoạn 2011 – 2020, các đại biểu đại diện ban, bộ ngành, đoàn thể Trung ương, địa phương, các nhà khoa học, chuyên gia tài chính - ngân hàng đều đánh giá cao sự phát triển của NHCSXH. Trong đó nổi bật là tốc độ tăng trưởng tổng nguồn vốn hoạt động tín dụng chính sách đạt bình quân 10%/năm; Quy mô tổng nguồn vốn hoạt động tín dụng chính sách tăng gấp 2,6 lần, từ 90.400 tỷ đồng năm 2010 lên 233.426 tỷ đồng đến thời điểm 31/12/2020; Tốc độ tăng trưởng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đạt bình quân khoảng 10%/năm; Tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách tăng gấp 2,5 lần, từ 89.462 tỷ đồng năm 2010 lên 226.197 tỷ đồng đến thời điểm 31/12/2020, với hơn 6,4 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách đang còn dư nợ. Trong giai đoạn 2011 - 2020, vốn tín dụng chính sách đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2011 - 2015 từ 14,2% xuống 4,25%, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều đã giảm từ 9,88% (năm 2016) xuống dưới 3% (cuối năm 2020). Hoạt động tín dụng chính sách xã hội do NHCSXH thực hiện trong thời gian qua đã được Đảng, Nhà nước, nhân dân ghi nhận và đánh giá cao. NHCSXH đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới”.

phat trien ngan hang chinh sach xa hoi can dat trong chien luoc tai chinh toan dien
Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú phát biểu tại hội thảo

Theo ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội, chính sách tín dụng cho hộ nghèo và đối tượng chính sách do NHCSXH thực hiện đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng của chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững. Đây là chính sách gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước (qua NHCSXH) với các tổ chức, đoàn thể và người dân. Ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng và quyết định của tín dụng chính sách được đánh giá cao nhất là Việt Nam đã hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và trở thành một nước có mức thu nhập trung bình.

Mục tiêu tổng quát của NHCSXH đặt ra cho giai đoạn 2021-2030 là tăng cường nguồn lực cho NHCSXH để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách theo các nội dung của thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cụ thể là mức tăng trưởng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho mục tiêu an sinh xã hội, giảm nghèo bình quân hàng năm khoảng 10%. Cơ cấu nguồn vốn theo hướng ổn định, tự chủ trong đó, nguồn NSNN cấp theo lộ trình đến năm 2025 đạt 40%/tổng nguồn vốn, tiến tới đến năm 2030 đạt 50%/tổng nguồn vốn. Nguồn lực cấp cho NHCSXH được tổng hợp vào vốn đầu tư công trung hạn theo Luật NSNN và Luật Đầu tư công. Đẩy mạnh nguồn vốn ủy thác từ ngân sách địa phương theo Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư: phấn đấu đến năm 2030 nguồn vốn ủy thác từ ngân sách địa phương chiếm 15%/tổng nguồn vốn; Tăng nguồn vốn huy động, trong đó nguồn vốn từ phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh chiếm từ 30%/tổng nguồn vốn.

Các đại biểu có đồng quan điểm, định hướng tín dụng chính sách xã hội trong giai đoạn tới tiếp tục là giải pháp quan trọng để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia cũng như phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vì vậy, cần phải tổ chức, triển khai thực hiện tích cực và hiệu quả chính sách này, hướng tới tập trung thống nhất chức năng tín dụng chính sách từ các ngân hàng thương mại sang NHCSXH. Cùng với đó, phát triển NHCSXH thành tổ chức có khả năng tự chủ và phát triển ổn định lâu dài; đồng thời, duy trì được vai trò là định chế tài chính công thực hiện các chính sách xã hội của Chính phủ; tập trung vào những lĩnh vực mà các tổ chức tài chính hoạt động theo nguyên tắc thị trường không thể đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng được một phần.

Bên cạnh đó, PGS,TS Ngô Tuấn Nghĩa, Viện trưởng Viện Kinh tế chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, cùng với năng lực vốn, việc đi sâu phát triển chức năng kết nối để tham gia vào dịch vụ tư vấn, cung cấp thông tin, cải thiện sinh kế cho khách hàng của ngân hàng chính sách cũng cần được chú ý từng bước nâng cao năng lực của ngân hàng chính sách trong thời gian tới.

Cần ưu tiên nguồn vốn để thực hiện tín dụng chính sách

Phát biểu tại Hội thảo, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú nhấn mạnh, về quan điểm, định hướng, mục tiêu phát triển NHCSXH giai đoạn 2021 - 2030, cần tiếp tục phát huy vai trò là một định chế tài chính quan trọng, thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước, hoạt động hiệu quả, bền vững, góp phần thực hiện mục tiêu, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế gắn với giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội. Tín dụng chính sách xã hội tại NHCSXH tiếp tục là điểm sáng và là một trong những “trụ cột” chính của hệ thống các chính sách giảm nghèo, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia, bao phủ được các đối tượng chính sách; là một giải pháp sáng tạo, có tính nhân văn sâu sắc và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

Phó Thống đốc cũng cho rằng, cần hướng tới tập trung thống nhất chức năng tín dụng chính sách từ các ngân hàng thương mại sang NHCSXH; Phát triển NHCSXH thành tổ chức có khả năng tự chủ và phát triển ổn định lâu dài, tập trung vào những lĩnh vực mà các tổ chức tài chính hoạt động theo nguyên tắc thị trường không thể đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng được một phần. Đồng thời, cần có cơ chế tạo lập nguồn vốn cho NHCSXH theo hướng ổn định, bền vững, trong đó cần ưu tiên cân đối nguồn vốn NSNN để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội theo các nội dung thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Phó Thống đốc lưu ý, việc xây dựng Chiến lược Phát triển NHCSXH giai đoạn 2021-2030 cần đặt ra các mục tiêu phát triển cụ thể, định hướng phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030, chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2030, chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025, chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện và phù hợp với thực tiễn hoạt động của NHCSXH trong thời gian qua.

Về giải pháp trong giai đoạn tới, Phó Thống đốc Đào Minh Tú và các đại biểu đều thống nhất các giải pháp trọng tâm trong Chiến lược phát triển NHCSXH 2021-2030.

Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tổ chức, điều lệ và hoạt động tín dụng chính sách của NHCSXH đảm bảo nguyên tắc duy trì những cơ chế, quy định đang phát huy hiệu quả; thay thế những quy định đã lỗi thời, chưa cập nhật với quy định của pháp luật hiện hành, không phù hợp thực tiễn và điều kiện mới, cản trở hoạt động của NHCSXH.

Hai là, hoàn thiện các quy định của pháp luật về cơ chế huy động vốn của NHCSXH, nhất là cơ chế phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, tạo sự chủ động cho NHCSXH thực hiện các phương án huy động vốn có chi phí phù hợp hơn, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn thực hiện các chương trình tín dụng chính sách.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các Chương trình tín dụng chính sách; Thường xuyên rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình tín dụng chính sách hiện hành để kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách, gắn với mục tiêu của các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn tới.

Bốn là, thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội; Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội; tăng cường bổ sung nguồn vốn địa phương (cấp tỉnh và cấp huyện) để ủy thác cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách. Và cuối cùng là tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội; đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tín dụng chính sách xã hội đến các tầng lớp nhân dân, nhất là người nghèo và các đối tượng chính sách.

Đức Nghiêm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400