Rà soát toàn bộ hoạt động xuất khẩu gạo

08:35 | 30/03/2020

Chính phủ đã thành lập đoàn liên ngành Nông nghiệp, Công thương, Tài chính, Ngân hàng trực tiếp làm việc với 20 thương nhân có kim ngạch xuất khẩu gạo lớn những ngày cuối tuần.

Thống nhất “rà lại rồi tính”

Theo một thành viên trong đoàn liên ngành, đại diện các bộ ngành liên quan sẽ phải đánh giá tác động của dịch Covid-19 và   ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đối với hoạt động sản xuất, xuất khẩu lúa gạo năm 2020.

Trước đó, Bộ Công thương đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ tạm dừng xuất khẩu gạo để đề phòng an ninh lương thực quốc gia trước đại dịch Covid-19, sau đó chính bộ này lại xin dừng quyết định dừng xuất khẩu gạo của mình.

ra soat toan bo hoat dong xuat khau gao
Tín dụng ngân hàng nhiều năm qua luôn là bệ đỡ cho nông dân và DN xuất khẩu gạo

Các DN xuất khẩu lúa gạo cho rằng số lượng gạo tồn kho ở trong dân còn rất lớn và tình hình xuất khẩu trong tháng 3 có thể không tăng mạnh như dự báo. Vì vậy, nếu ngưng xuất khẩu gạo đột ngột có thể khiến giá lúa rớt mạnh, người nông dân và DN đều sẽ chịu thiệt hại. Thậm chí, các DN và người dân đang vay nợ ngân hàng để sản xuất – chế biến kinh doanh lúa gạo đứng trước nguy cơ sẽ không trả được nợ, phát sinh nợ xấu ngay trong bối cảnh bị ảnh hưởng nặng bởi hạn mặn và dịch bệnh.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Quốc Khánh, trước khi kiến nghị Chính phủ ngừng xuất khẩu gạo, bộ nhận định dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, hạn mặn xảy ra phổ biến ở khu vực ĐBSCL và nhu cầu lương thực thế giới tăng cao. Trong khi đó, hết tháng 2/2020 các DN Việt Nam đã xuất khẩu được khoảng 928.500 tấn gạo với giá trị đạt khoảng 430,3 triệu USD, tăng 31,6% về lượng và 39,3% về giá trị so với cùng kỳ 2019. Nếu tốc độ xuất khẩu tiếp tục tăng mạnh (32%) như 2 tháng đầu năm thì có thể các tháng tới Việt Nam sẽ đối diện với rủi ro thiếu gạo.

Theo lý giải của Bộ Công thương khi kiến nghị dừng xuất khẩu gạo bộ đã đánh giá tác động và đưa ra hai phương án: Thứ nhất là tạm giãn tiến độ xuất khẩu gạo đến giữa tháng 5. Thứ hai, đưa ra chế độ giấy phép, miễn làm sao kiểm soát xuất khẩu, vừa đảm bảo tiến độ hợp đồng đã ký và đảm bảo an ninh lương thực. Sau khi cân nhắc, Thủ tướng Chính phủ đã chọn phương án thứ nhất.

Tín dụng ngành lúa gạo vẫn tăng

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, khi triển khai chỉ đạo, các DN tỏ ra lo ngại vì các hợp đồng đã ký với đối tác nhập khẩu nếu giãn tiến độ sẽ phải bồi thường. Chưa kể, các DN hầu hết đều đang phải vay vốn ngân hàng theo hạn mức và dòng tiền kinh doanh xuất khẩu. Nếu việc xuất khẩu bị dừng đột ngột sẽ khiến nhiều DN không thể trả nợ kịp thời dẫn đến phát sinh nợ quá hạn.

Theo số liệu thống kê của Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - NHNN Việt Nam, tính đến cuối tháng 2/2020 tổng dư nợ cho vay ngành lúa gạo đạt khoảng 112.453 tỷ đồng, tăng 0,37% so với cuối năm 2019. Trong đó, dư nợ cho vay trồng lúa đạt khoảng 29.000 tỷ đồng; dư nợ cho vay phục vụ thu mua, tiêu thụ lúa gạo (bao gồm cả xuất khẩu gạo) đạt trên 71.600 tỷ đồng; dư nợ cho vay phục vụ chế biến, bảo quản lúa gạo đạt khoảng 11.800 tỷ đồng. Riêng ở khu vực ĐBSCL hiện dư nợ cho vay đối với ngành lúa gạo đang chiếm khoảng 46% tổng dư nợ cho vay lúa gạo của cả nước, ước đạt khoảng trên 51.500 tỷ đồng, tăng 10,7% so với 2019.

Trong cuộc họp thường kỳ tháng 3 của UBND TP. Cần Thơ ngày 26/3, ông Trần Quốc Hà, Giám đốc NHNN chi nhánh TP. Cần Thơ cho biết, các ngân hàng trên địa bàn thành phố đã cho vay xuất khẩu gạo hơn 7.700 tỷ đồng, nếu Bộ Công thương không giải quyết được vấn đề dừng xuất khẩu gạo các nguy cơ nợ xấu sẽ phát sinh hơn nữa.

Tính đến cuối tháng 2/2020, 14 ngân hàng có dư nợ cho vay xuất khẩu gạo,  trong đó Vietcombank và VietinBank có dư nợ xuất khẩu gạo lớn nhất, lần lượt 5.200 tỷ đồng và 3.324 tỷ đồng. Các NHTM khác đã cho vay khoảng 10.154 tỷ đồng để phục vụ hoạt đồng xuất khẩu gạo của các DN trong nước.

Ngoài ra, ngành Ngân hàng còn cho vay ưu đãi lãi suất theo Quyết định 68/2013 của Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch trong nông nghiệp, tính đến đầu năm nay dư nợ đã lên đến 2.850 tỷ đồng. Hầu hết những khoản vay này là người nông dân, DN thuộc ngành sản xuất, chế biến – xuất khẩu gạo.

NHNN mới đây đã ban hành Thông tư 01/2020/TT-NHNN là cơ sở pháp lý quan trọng cho các ngân hàng gia hạn nợ, miễn giảm lãi suất cho vay đối với những cá nhân, DN bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, trong đó có những DN trong ngành lúa gạo. Theo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, trong thời gian tới để hỗ trợ các DN ngành lúa gạo, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho vay sản xuất kinh doanh, thu mua, tạm trữ lúa gạo; đẩy mạnh triển khai các chính sách, chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ; tập trung nguồn vốn, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận vốn sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu lúa gạo.

Theo số liệu thống kê của Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - NHNN Việt Nam, tính đến cuối tháng 2/2020 tổng dư nợ cho vay ngành lúa gạo đạt khoảng 112.453 tỷ đồng, tăng 0,37% so với cuối năm 2019. Trong đó, dư nợ cho vay trồng lúa đạt khoảng 29.000 tỷ đồng; dư nợ cho vay phục vụ thu mua, tiêu thụ lúa gạo (bao gồm cả xuất khẩu gạo) đạt trên 71.600 tỷ đồng; dư nợ cho vay phục vụ chế biến, bảo quản lúa gạo đạt khoảng 11.800 tỷ đồng.

Bài và ảnh Thạch Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.076 23..286 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.068 23.268 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
57.050
Vàng SJC 5c
55.100
57.070
Vàng nhẫn 9999
52.200
54.100
Vàng nữ trang 9999
51.700
53.600