Tăng lãi suất: Con đường cao tốc “lớn và dài”

08:18 | 23/09/2022

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã tiếp tục “viết nên lịch sử” vào hôm thứ Tư vừa qua, khi quyết định tăng lãi suất 75 điểm cơ bản lần thứ 3 liên tiếp nhằm quyết liệt đối phó với tình thế lạm phát cao đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Mỹ.

Chấp nhận thực tế

Điều này chỉ một vài tháng trước đây không giới phân tích hay NĐT nào nghĩ tới. Đây là lần tăng lãi suất thứ 5 liên tiếp trong năm nay và là lần thứ 3 liên tiếp Fed tăng lãi suất ở mức 0,75%. Với quyết định tăng lãi suất mới nhất, lãi suất cho vay chuẩn của NHTW đã lên một phạm vi mới là từ 3%-3,25%. Đây là mức lãi suất cho vay cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Quyết định này cũng đánh dấu động thái chính sách cứng rắn nhất của Fed kể từ những năm 1980 để chống lạm phát cao và tất yếu sẽ gây ra những đau đớn, tổn thất về kinh tế cho hàng triệu doanh nghiệp và hộ gia đình Mỹ, thông qua đẩy chi phí vay vốn để có mua những thứ từ nhà cửa, ô tô và chi tiêu thẻ tín dụng.

tang lai suat con duong cao toc lon va dai
Biểu đồ Dot Plot mới nhất cho thấy đến năm 2025, lãi suất tại Mỹ vẫn ở mức cao gần 3%

“Không ai biết liệu quá trình này có dẫn đến suy thoái hay không, hay nếu có, thì sẽ nghiêm trọng như thế nào?”, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome Powell nói tại cuộc họp báo về quyết định tăng lãi suất sau cuộc họp chính sách kéo dài 2 ngày vừa qua. Ông Powell cũng nói: “Cơ hội hạ cánh mềm có khả năng giảm đi đến mức chính sách sẽ cần phải hạn chế hơn hoặc hạn chế trong thời gian dài hơn. Tuy nhiên, chúng tôi cam kết đưa lạm phát trở lại 2%”. Và rằng: “Chúng tôi luôn hiểu rằng việc khôi phục sự ổn định giá cả trong khi tỷ lệ thất nghiệp tăng tương đối khiêm tốn và hạ cánh mềm sẽ rất khó khăn. Tôi ước có một cách không đau để làm điều đó nhưng tiếc là không có”… Tất cả những phát biểu của ông Powell đều cho thấy một thừa nhận về những nỗi đau kinh tế do việc thắt chặt mạnh này có thể gây ra.

Triển vọng xấu đi

Bản tóm tắt các dự báo kinh tế hàng quý vừa được công bố của Fed cho thấy triển vọng kém lạc quan hơn đối với tăng trưởng kinh tế và thị trường lao động. Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp trung bình dự kiến ở mức 3,8% trong năm nay và tăng lên 4,4% vào năm 2023, cao hơn mức 3,9% trong dự kiến vào tháng 6 và cao hơn đáng kể so với tỷ lệ hiện tại là 3,7%. Tăng trưởng GDP năm nay được điều chỉnh giảm xuống 0,2% (từ mức 1,7% đưa ra vào tháng 6), sau đó tăng lên 1,2% vào năm 2023 nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với tăng trưởng tiềm năng. Trong khi đó dự báo về lạm phát tăng lên. Ước tính chỉ số chi tiêu tiêu dùng cá nhân cốt lõi dự kiến sẽ đạt 4,5% trong năm nay và 3,1% vào năm 2023. Các con số này tăng so với dự báo tháng 6 lần lượt ở mức 4,3% và 2,7%.

Song có lẽ điều quan trọng nhất đối với các nhà đầu tư là họ đang cố gắng tìm kiếm hướng dẫn từ các thông điệp mà Fed đưa ra tại cuộc họp vừa qua và biểu đồ Dot Plot mới nhất dự báo về phạm vi lãi suất liên bang, trong đó gợi ý ra đường hướng chính sách thích hợp cho việc tăng lãi suất trong tương lai. Các con số được công bố vào thứ Tư cho thấy Fed dự kiến lãi suất sẽ tiếp tục tăng trong phần còn lại của năm nay, cả năm tới trước khi dừng lại và giảm xuống từ 2024.

Cụ thể, các quan chức Fed dự kiến phạm vi lãi suất liên bang trung bình sẽ tăng từ 3,4% dự kiến vào tháng 6 lên 4,4% trong năm nay. Sau đó tiếp tục tăng lên 4,6% vào năm 2023 (tháng 6 dự kiến chỉ từ 3,8%). Lãi suất vào năm 2024 dự kiến khoảng 3,9% (tăng từ 3,4% theo dự báo tháng 6) và ở mức 2,9% vào năm 2025. Về cơ bản, những dự báo mới nhất của Fed cho thấy nguy cơ ngày càng tăng về một cú hạ cánh cứng, trong đó CSTT thắt chặt đến mức gây ra suy thoái. Nó cũng cung cấp một số bằng chứng cho thấy, Fed sẵn sàng chấp nhận "đau đớn" trong điều kiện và hoạt động kinh tế, miễn sao kéo giảm được tình trạng lạm phát cao dai dẳng hiện nay.

Theo Moody's Analytics, giá cả cao hơn đang khiến người tiêu dùng phải chi thêm khoảng 460 USD mỗi tháng cho hàng hóa tiêu dùng so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, thị trường việc làm cũng như chi tiêu của người tiêu dùng vẫn mạnh mẽ; giá nhà đất vẫn ở mức cao ở nhiều khu vực… Điều đó có nghĩa là Fed có thể cảm thấy tạm yên tâm rằng, nền kinh tế vẫn có thể “tiêu hóa” được các đợt tăng lãi suất mạnh mẽ hơn mà không gặp phải đau đớn quá lớn.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.350
51.250
Vàng nữ trang 9999
50.250
50.850