Tăng trưởng GDP cả năm có thể đạt khoảng 7%

09:15 | 18/09/2022

Hôm nay, ngày 18/9/2022, Diễn đàn kinh tế - xã hội 2022 với chủ đề “Củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phục hồi và phát triển bền vững” được tổ chức. Đây cũng là chủ đề của phiên tọa đàm cấp cao tại Diễn đàn.

tang truong gdp ca nam co the dat khoang 7
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương

Trả lời phỏng vấn trước giờ khai mạc Diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ông Trần Quốc Phương cho rằng nếu tiếp tục duy trì đà phấn đấu và bối cảnh thuận lợi, khả năng tăng trưởng GDP cả năm có thể đạt cao hơn mục tiêu đã đề ra, đạt khoảng 7%.

Là người được Ban tổ chức Diễn đàn và Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân công trình bày tại Diễn đàn về tổng quan kinh tế - xã hội năm Việt Nam năm 2022 và triển vọng năm 2023, ông đánh giá tầm quan trọng và ý nghĩa của Diễn đàn này như thế nào?

Diễn đàn kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2022 là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng, được tổ chức trong bối cảnh Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV đang tới gần. Tại kỳ họp lần này, bên cạnh các nội dung quan trọng, Quốc hội sẽ xem xét, cho ý kiến về tình hình kinh tế - xã hội năm 2022 và quyết nghị những mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp chủ yếu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023.

Chủ đề Hội nghị về “Củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phục hồi và phát triển bền vững” đã thể hiện bao quát nội dung quan trọng đang được các đại biểu Quốc hội, cử tri cả nước và toàn xã hội quan tâm, nhất là trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục có những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, tác động mạnh các mặt của đời sống kinh tế - xã hội.

Ba phần tư thời gian của năm đã qua, vậy chúng ta đã đạt được những gì và khả năng hoàn thành mục tiêu đặt ra năm nay ra sao, thưa Thứ trưởng?

Năm 2022 có ý nghĩa quan trọng, khẳng định tiến trình phục hồi bền vững và thích ứng hiệu quả với dịch Covid-19 của nước ta đạt được nhiều kết quả tích cực, khẳng định sự nỗ lực, cố gắng của toàn hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp, nhờ đó tình hình kinh tế - xã hội năm 2022 đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận.

Nền kinh tế có bước phục hồi tích cực ngay từ đầu năm 2022, tăng trưởng GDP 06 tháng tăng 6,42% so với cùng kỳ. Theo nhiều dự báo khác nhau, nếu tiếp tục duy trì đà phấn đấu và bối cảnh thuận lợi, khả năng tăng trưởng GDP cả năm có thể đạt cao hơn mục tiêu đã đề ra, đạt khoảng 7%. Quỹ Tiền tệ thế giới IMF dự báo tăng 7%, Ngân hàng Thế giới dự báo tăng 7,5%.

Đáng chú ý là trong bối cảnh chịu nhiều tác động của diễn biến phức tạp của tình hình kinh, lạm phát, giá cả, thương mại thế giới nhưng chúng ta vẫn giữ vững được ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế, các định chế tài chính quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài… ghi nhận và đánh giá cao.

Trong phát triển luôn cần có những động lực mới. Thưa Thứ trưởng, chúng ta đã tìm kiếm, tạo động lực mới như thế nào?

Chúng ta đã tiếp tục thúc đẩy phát triển các động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Đồng thời đẩy mạnh cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ nguồn lực phát triển thông qua việc xây dựng, trình ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho Khánh Hòa, Cần Thơ, các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Chương trình hành động của Chính phủ về phát triển vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long…

Song song với đó là tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, nông nghiệp, nông dân, nông thôn và kinh tế tập thể.

Tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành, đưa vào sử dụng một số công trình hạ tầng quan trọng, liên vùng, tác động lớn đến kinh tế - xã hội như: cao tốc Bắc - Nam đoạn Cao Bồ - Mai Sơn, đoạn La Sơn - Túy Loan, cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, Hạ Long - Móng Cái, cầu Thủ Thiêm 2…

tang truong gdp ca nam co the dat khoang 7

Các dự báo đều cho rằng, thế giới còn nhiều bất trắc, khó lường theo chiều hướng xấu đi. Vậy tình hình thế giới năm tới liệu xấu đến đâu?

Chúng tôi sơ bộ đánh giá cho thấy năm 2023 cũng là năm dự kiến có rất nhiều khó khăn, thách thức, cả quốc tế và trong nước.

Thế giới tiếp tục phải đối mặt với rất nhiều các yếu tố rủi ro, bất định, khó khăn, thách thức ngày càng tăng. Tăng trưởng kinh tế thế giới dự báo chậm lại, có nguy cơ cao dẫn tới suy thoái kinh tế. Nguy cơ suy thoái tại một số nước lớn trở nên rõ ràng hơn. Lạm phát tiếp tục cao, có khả năng kéo dài trong trung hạn tại một số quốc gia. Xu hướng phân mảng, khu vực hóa, cạnh tranh kinh tế ngày càng gia tăng.

Theo Thứ trưởng, việc điều chỉnh chính sách trên thế giới sẽ đi theo xu hướng nào?

Việc điều chỉnh chính sách của các nước lớn trong trung và dài hạn có thể trở thành vòng lặp “thắt chặt – suy thoái”, “nới lỏng – tăng trưởng”, “lạm phát cao – thắt chặt”, khi những vấn đề về xung đột Nga – Ucraina, nguồn cung năng lượng, chuỗi cung ứng, cạnh tranh chiến lược… không thể giải quyết trong ngắn hạn; tiềm ẩn rủi ro đến ổn định thị trường tài chính, tiền tệ, an ninh năng lượng, lương thực và các vấn đề địa chính trị khu vực, toàn cầu.

“Thắt chặt” để kiểm soát lạm phát nhưng dẫn đến suy giảm tăng trưởng, nguy cơ “suy thoái”; tăng trưởng thấp lại dẫn tới phải “nới lỏng” để thúc đẩy “tăng trưởng”, kéo theo“lạm phát cao”; lạm phát cao lại cần phải quay lại chính sách “thắt chặt”.

Tình thình thế giới như thế sẽ có nhiều tác động không tốt tới tình hình kinh tế trong nước, Thứ trưởng dự báo tình hình kinh tế trong nước sẽ ra sao, trong những tháng tới và trong năm sau?

Trong nước hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục khởi sắc; Nguồn vốn đầu tư công từ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, 03 Chương trình mục tiêu quốc gia được tích cực triển khai. Ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, là cơ sở tích cực cho tăng trưởng và phát triển.

Tuy nhiên với độ mở kinh tế lớn, trong khi tính tự chủ của nền kinh tế, năng lực sản xuất trong nước còn khiêm tốn, tác động của rủi ro, thách thức tới tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta là rất lớn. Nên nền kinh tế tiếp tục phục hồi, nhưng tăng trưởng kinh tế khả năng sẽ khó khăn hơn trong Quý IV năm nay và cả năm 2023.

Xu hướng chung của nhiều tổ chức quốc tế là nâng dự báo tăng trưởng năm 2022 nhưng cũng đồng thời hạ dự báo tăng trưởng năm 2023 của Việt Nam. WB dự báo GDP nước ta tăng 7,5% năm 2022 và 6,7% năm 2023. IMF dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2022 là 7% năm 2023 là 6,7%.

Trong bối cảnh luôn có những biến động khó lường, quan điểm của Thứ trưởng về công tác điều hành thế nào?

Trong bối cảnh khó khăn, thách thức nêu trên, càng phải nỗ lực, quyết tâm cao nhất để thực hiện nhanh, hiệu quả, thực chất, toàn diện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, Chương trình phòng, chống dịch Covid-19 (2022-2023);

Kiên định giữ vững ổn định vĩ mô, thúc đẩy phát triển các động lực tăng trưởng mới. Chủ động ứng phó linh hoạt, kịp thời với các tình huống phát sinh, đồng thời tập trung vừa xử lý các vấn đề tồn đọng, kéo dài, vừa thực hiện hiệu quả các giải pháp căn cơ trong trung và dài hạn để phấn đấu đạt các mục tiêu phát triển 05 năm đề ra.

Đồng thời phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khóa, tiền tệ, thương mại, điều hành giá và các chính sách vĩ mô khác. Phản ứng chính sách nhanh, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả, kịp thời

Vả phải bảo đảm hài hòa, gắn kết chặt chẽ giữa việc thực hiện các giải pháp để vừa phục hồi, thúc đẩy tăng trưởng vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn.

Cảm ơn Thứ trưởng!

Lê Đỗ thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.940 24.250 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.918 24.218 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.880 24.180 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.900 24.220 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.800 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.905 24.455 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.908 24.210 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.810 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.970 24.260 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.250
67.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.250
67.050
Vàng SJC 5c
66.250
67.070
Vàng nhẫn 9999
53.250
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.050
53.850