Thị trường chứng khoán Việt Nam: Sẽ ổn định và hướng đến tích cực

09:50 | 17/01/2020

Ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Kinh tế trưởng kiêm Giám đốc Nghiên cứu Phát triển thuộc Công ty Chứng khoán SSI cho biết, VN-Index khởi đầu năm 2020 với mức trailing P/E 15,9 lần, thấp nhất kể từ tháng 2/2019. Với mức định giá tương đối hấp dẫn và VN-Index đã đi ngang trong một thời gian dài, hiện đang có nhiều cơ hội hơn cho TTCK khi bước sang năm 2020.

Chính sách tiền tệ đã hỗ trợ tích cực cho thị trường chứng khoán
Vốn hoá thị trường chứng khoán đạt 4,4 triệu tỷ đồng

Theo nhận định của SSI, kinh tế tăng trưởng ổn định, giải ngân đầu tư công tăng tốc, xu hướng giảm lãi suất hỗ trợ về mặt định giá cũng như tăng trưởng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Theo đó tăng trưởng GDP năm thứ 2 liên tiếp đạt trên 7% trong năm 2019 là một minh chứng cho thấy chính sách kinh tế của Việt Nam đang đi đúng hướng. Nghị quyết 10/2017 về phát triển kinh tế tư nhân đã bắt đầu tạo “trái ngọt”. Tăng trưởng vốn đầu tư của khối tư nhân trong năm 2019 đạt 17,3%, gấp đôi tăng trưởng của khối FDI và gấp 4 lần tăng trưởng của khối nhà nước đã kéo tăng trưởng xuất khẩu của khối DN trong nước lên 17,7%, cao hơn nhiều khối FDI là 4%. Sự vươn lên của khối kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục là gia tốc quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định vĩ mô. Đây cũng là một câu chuyện mới, đủ sức hấp dẫn để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài.

Một động lực tăng trưởng khác cho thị trường đến từ việc giải ngân đầu tư công sẽ được thực thi quyết liệt hơn trong năm 2020. Đây là động lực tăng trưởng cho không chỉ kinh tế mà trực tiếp cho nhiều nhóm ngành trên TTCK như xây dựng và vật liệu xây dựng.

Ngoài ra, định hướng giảm lãi suất của Chính phủ đã được triển khai ngay từ cuối năm 2019 và sẽ còn tiếp tục trong năm 2020. Thời gian lãi suất giảm trong năm 2019 là khá ngắn, chưa đủ để có tác động đến kinh tế và DN. Tuy nhiên sang năm 2020, khi lãi suất giảm liên tục và kéo dài, không chỉ DN được hưởng lợi mà tâm lý thị trường cũng sẽ được củng cố. Hai yếu tố tăng trưởng và lãi suất của Việt Nam sẽ hòa nhịp với xu hướng chung của thế giới, tạo nên sự khởi sắc của TTCK.

Cơ hội thu hút dòng vốn nước ngoài cũng đang mở ra từ việc dòng vốn đang chuyển dịch vào thị trường mới nổi. Vào tuần cuối tháng 12/2019, có tới 23,6 tỷ USD rút khỏi thị trường Mỹ, mức cao nhất trong 1 năm. Ngược lại, dòng vốn vào cổ phiếu tại các thị trường mới nổi ghi nhận có 21,2 tỷ USD chảy vào trong 9 tuần liên tiếp, trong đó điểm đến chủ yếu là các quỹ toàn cầu (GEM) và khu vực Châu Á (ngoại trừ Nhật Bản).

Khảo sát hàng tháng của Bank of America Merrill Lynch (BAML) cho thấy, các nhà quản lý quỹ trên toàn cầu đã lạc quan hơn. Trong đợt khảo sát tháng 12/2019, có tới 29% trong số 247 nhà quản lý quỹ (với tổng tài sản quản lý 745 tỷ USD) cho rằng kinh tế toàn cầu 2020 sẽ tăng tốc. Tỷ trọng phân bổ tài sản đầu tư vào cổ phiếu đã tăng liên tục trong 4 tháng khảo sát gần nhất, chuyển từ 12%underweight (8/2019) sang overweight 31% (12/2019) - mức cao nhất trong năm 2019.

Bên cạnh dòng vốn được phân bổ theo chiến lược đầu tư toàn cầu, TTCK Việt Nam trong năm 2020 sẽ chứng kiến nhiều ETF mới mô phỏng chỉ số VN30 cũng như bộ 3 chỉ số mới của sàn HOSE. TTCK Việt Nam cũng đang được FTSE cân nhắc nâng hạng và chỉ còn một tiêu chí về thanh toán chưa thỏa mãn. Nếu có những bước đi cụ thể nhằm khơi thông điều kiện này thì các NĐTNN sẽ rất nhanh nhạy nắm bắt thời cơ để vào Việt Nam.

“Kết hợp câu chuyện phát triển kinh tế tư nhân với nâng hạng thị trường sẽ tạo được sự khác biệt và vì vậy Việt Nam có thể thu hút được dòng vốn ngay cả khi bối cảnh chung không thuận lợi”, ông Linh phân tích.

Với nền tảng này, SSI cho rằng kịch bản cơ sở cho thị trường năm 2020 là VN-Index sẽ nhiều nét tương đồng như năm 2019, sôi động trong khoảng thời gian đầu năm và sau đó lắng dịu. Khả năng giảm sâu dưới vùng tích lũy 950-1.000 điểm là rất thấp trừ khi các căng thẳng quốc tế ở Trung Đông và quan hệ Mỹ - Trung leo thang không kiểm soát.

Kịch bản tích cực với xác suất xảy ra cao hơn là sau thời gian tích lũy, các yếu tố hỗ trợ trong nước bao gồm tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng lợi nhuận DN, xu hướng giảm lãi suất cộng hưởng với các yếu tố hỗ trợ bên ngoài sẽ khiến thị trường hưng phấn, tạo thêm sóng mới cho VN-Index vào cuối năm.

Các chuyên gia chứng khoán cho rằng, dù ở kịch bản nào thì kinh tế Việt Nam nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng vẫn sẽ ở trong trạng thái ổn định hướng đến tích cực. Một nền tảng kinh tế vững chắc đang dần được bồi đắp và vì vậy sự đi lên chậm rãi của chỉ số lại là điều cần thiết, giúp tránh các rủi ro không đáng có do thị trường tăng nóng.

 Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.105 23.285 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.101 23.281 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.100 23.270 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.100 23.270 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.093 23..303 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.110 23.270 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.050
50.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.050
50.450
Vàng SJC 5c
50.050
50.470
Vàng nhẫn 9999
49.850
50.400
Vàng nữ trang 9999
49.500
50.250