Thị trường cổ phiếu niêm yết tăng trưởng 13%

14:41 | 28/12/2022

Đến ngày 23/12, giá trị vốn hoá 3 sàn HoSE, HNX và UpCoM đạt 5,28 triệu tỷ đồng và giảm 32% so với năm 2021, song thị trường cổ phiếu niêm yết vẫn tăng trưởng 13% và đạt 1,97 triệu tỷ đồng.

thi truong co phieu niem yet tang truong 13

Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2022, triển khai nhiệm vụ công tác năm 2023 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, ngày 27/12. (Ảnh: Vietnam+)

Năm 2023, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần triển khai các giải pháp để thị trường phát triển thực chất, bền vững hơn, tăng thanh khoản, tiếp tục là kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi nhấn mạnh nội dung chỉ đạo này tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2022, triển khai nhiệm vụ công tác năm 2023 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, ngày 27/12.

Vận hành thị trường ổn định

Năm 2022, nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn nhưng thị trường chứng khoán vẫn được vận hành ổn định. Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi ghi nhận toàn ngành chứng khoán đã tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, qua đó phát hiện và xử lý nghiêm các sai phạm trên thị trường.

“Đây là điều chúng ta làm tốt trong năm qua và được thị trường ghi nhận, góp phần giúp niềm tin trên thị trường được củng cố, tạo tiền đề cho phát triển minh bạch, bền vững hơn,” Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi nói.

Đặc biệt, Thứ trưởng đã đánh giá cao sự đoàn kết trong nội bộ của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, mặc dù nội tại gặp nhiều khó khăn nhưng tập thể đã nâng cao tinh thần đoàn kết nhất trí, triển khai nhiệm vụ có được những kết quả tốt.

Tính đến ngày 23/12, giá trị vốn hóa 3 sàn HoSE, HNX và UpCoM ước đạt 5,28 triệu tỷ đồng, giảm 32% so với cuối năm 2021, tương đương 62% GDP.

Bên cạnh đó, quy mô thị trường cổ phiếu niêm yết tiếp tục tăng trưởng. Tính hết tháng 11, quy mô niêm yết và đăng ký giao dịch của thị trường đạt 1,97 triệu tỷ đồng, tăng 13% so năm 2021 với 757 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên 2 Sở giao dịch cùng 859 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UpCoM. Về thị trường trái phiếu, toàn thị trường có 447 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt hơn 1,71 triệu tỷ đồng, tăng 10,7% so với năm 2021 (tương đương 20% GDP).

Sang năm 2023, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi đề nghị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tập trung rà soát Luật Chứng khoán để sửa đổi phù hợp với thực tế thị trường đồng thời xây dựng kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2023, tiếp tục thực hiện kỷ cương, kỷ luật thị trường ở mức cao hơn.

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính, toàn ngành chứng khoán cần tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ, đảm bảo kịp thời và quy định pháp luật; tập trung triển khai dự án công nghệ thông tin KRX và củng cố năng lực nhân lực của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở giao dịch, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam.

Thêm vào đó, lãnh đạo Bộ yêu cầu tăng cường truyền thông về thị trường cũng như các chính sách để các thành viên thị trường luôn tiếp cận đầy đủ, kịp thời thông tin chính thống từ Ủy ban và các Sở giao dịch.

Thị trường hấp dẫn so với khu vực

Năm 2022, mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam diễn biến phức tạp và chịu áp lực lớn từ biến động của thị trường quốc tế, đã có nhiều phiên điều chỉnh đan xen, nhưng nhìn chung vẫn được đánh giá là thị trường hấp dẫn so với các nước khác trong khu vực. Hơn nữa, dòng vốn nước ngoài cũng đã quay trở lại và mạnh mẽ hơn vào những tháng cuối năm.

Trong năm, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã hoàn thành các nhiệm vụ được giao, công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, các hành vi vi phạm pháp luật, thao túng giá chứng khoán được xử lý nghiêm, giữ vững kỷ luật, kỷ cương của thị trường, ổn định tâm lý nhà đầu tư, giúp tăng thanh khoản thị trường, tiếp tục phát triển bền vững.

Theo số liệu từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, số lượng tài khoản nhà đầu tư mở mới tăng gấp đôi mặc dù thị trường giảm mạnh.Cụ thể, tính chung 11 tháng đầu năm, nhà đầu tư cá nhân trong nước mở mới hơn 2,48 triệu tài khoản, gấp khoảng 2,58 lần so với cuối năm trước.

Hiện, tổng số lượng tài khoản chứng khoán tại Việt Nam đạt gần 6,8 triệu tài khoản, tăng gần 58% so với cuối năm 2021 (trong đó, số lượng tài khoản nhà đầu tư trong nước đạt 6,755 triệu tài khoản, tăng 58% so với cuối năm 2021 và số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài đạt 42.458 tài khoản, tăng 7,5% so với cuối năm ngoái).

Tại Hội nghị, Phó Chủ tịch Phạm Hồng Sơn cho biết mặc dù có nhiều khó khăn thách thức, tuy nhiên, Ủy ban đã nỗ lực trong công tác chỉ đạo, điều hành và chủ động hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp lý theo đúng chương trình đề ra. Trong giai đoạn thị trường điều chỉnh vừa qua, Ủy ban Chứng khoán tăng cường thực hiện các giải pháp bình ổn thị trường và tổ chức thực hiện quyết liệt, như yêu cầu các Sở giao dịch công bố số liệu giao dịch tự doanh của các công ty chứng khoán.

Bên cạnh đó, các Sở giao dịch cũng đã thực hiện điều chỉnh giá thanh toán cuối cùng trong ngày đáo hạn phái sinh, điều này đã được thị trường đánh giá cao, bởi qua đó đã giúp nâng cao tính minh bạch của thị trường. Ngoài ra, Ủy ban đã tiến hành rà soát tổng thể các quy định tại Luật Chứng khoán, các văn bản hướng dẫn nhằm khắc phục những bất cập, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.

Trong năm, thị trường chứng khoán phái sinh diễn biến sôi động và tiếp tục trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn đồng thời giúp nhà đầu tư đa dạng hóa dòng tiền đầu tư.

Tính chung từ đầu năm đến nay, khối lượng giao dịch bình quân sản phẩm hợp đồng tương lai trên chỉ số VN30 đạt 270.871 hợp đồng/phiên, tăng 44% so với bình quân năm trước. Trong đó, thanh khoản thị trường tăng mạnh trong các tháng Năm và Sáu, khi khối lượng giao dịch bình quân đạt mức trên 300.000 hợp đồng/phiên.

Đặc biệt trong tháng 10, 11 và 12, khối lượng giao dịch tăng kỷ lục với khối lượng giao dịch bình quân đạt mức trên 400.000 hợp đồng/phiên. Thêm vào đó, khối lượng mở (OI) cũng tăng mạnh, tính đến ngày 23/12/2022, khối lượng mở OI toàn thị trường đạt 50.038 hợp đồng, tăng 61% so với cuối năm trước.

Ngoài ra, các sản phẩm chứng quyền được duy trì ổn định.Tính đến cuối tháng 11, thị trường có 135 mã chứng quyền niêm yết với khối lượng niêm yết là 951 triệu chứng quyền, tương ứng 1.592 tỷ đồng

Tiếp thu các ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Tài chính, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương cam kết sẽ cụ thể hóa các nội dung chỉ đạo, để có thể bắt tay triển khai ngay từ đầu năm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Nguồn: TTXVN

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
5,80
5,80
7,20
7,20
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
5,80
5,90
7,20
7,20
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
5,80
5,80
7,20
7,20
Cake by VPBank
1,00
-
-
-
6,00
-
6,00
8,90
-
9,00
9,00
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
6,70
6,90
7,10
7,80
Sacombank
-
-
-
-
5,50
5,60
5,70
7,50
7,70
7,90
8,30
Techcombank
0,30
-
-
-
5,90
5,90
5,90
7,70
7,70
7,70
7,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
7,60
7,60
8,00
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
8,55
8,60
8,65
9,20
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
5,80
5,80
7,20
7,20
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,30
6,60
7,10
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.310 23.680 24.662 26.042 27.702 28.883 175,33 185,62
BIDV 23.350 23.650 24.859 26.062 27.830 28.912 173.60 182.70
VietinBank 23.305 23.665 24.488 26.123 28.168 29.178 176,97 184,92
Agribank 23.300 23.660 24.910 26.057 27.948 28.857 177,53 185,26
Eximbank 23.270 23.650 24.970 25.647 28.029 28.789 177,36 182,17
ACB 23.350 23.800 25.009 25.606 28.028 28.765 177,51 181,93
Sacombank 23.315 23.700 25.080 25.687 28.247 28.862 177,80 183,35
Techcombank 23.325 23.675 24.760 26.090 27.766 29.067 173,38 185,81
LienVietPostBank 23.390 24.010 24.880 26.235 28.154 29.108 176,00 187,77
DongA Bank 23.360 23.680 24.980 25.620 28.050 28.760 176,5 182,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.550
67.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.550
67.250
Vàng SJC 5c
66.550
67.270
Vàng nhẫn 9999
54.900
55.900
Vàng nữ trang 9999
54.750
55.500