Thời điểm vàng để cơ cấu lại danh mục

18:06 | 29/11/2022

Ngoài việc tập trung vào nhóm ngành, nhà đầu tư nên tập trung vào câu chuyện của từng cổ phiếu. Có thể lựa chọn được những doanh nghiệp đầu ngành, có rủi ro thấp đối với việc lãi suất tăng, có một cơ cấu tài chính vững mạnh và có mức định giá khá hấp dẫn so với trung bình 3 năm gần đây.

Tháng 11, tháng 12 hàng năm luôn được đánh giá là thời điểm vàng để nhà đầu tư nhìn lại danh mục đầu tư và chuẩn bị các phương án cho giai đoạn tiếp theo của năm sau, bởi hết quý III là nền kinh tế gần như đã được phản ánh rõ.

Bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Phân tích Công ty CP Chứng khoán VNDIRECT cho biết, bối cảnh hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới cũng đang chịu sức ép từ lãi suất tăng, các điều kiện tài chính thắt chặt. Một số nền kinh tế lân cận của Việt Nam như Hàn Quốc cũng gặp vấn đề với các doanh nghiệp trong khu vực năng lượng và khu vực sản xuất thực phẩm trong việc thanh toán các khoản trái phiếu doanh nghiệp đến hạn và họ cũng phải thành lập một quỹ ứng phó 35 tỷ USD.

thoi diem vang de co cau lai danh muc

Trung Quốc vừa qua cũng đã đưa ra những chính sách, trong đó có khoảng 16 điều khoản nhằm tháo gỡ những khó khăn về thanh khoản của thị trường, phục hồi lại thị trường bất động sản. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cũng phải bơm ròng khoảng hơn 30 tỷ USD vào hệ thống để hỗ trợ cho các doanh nghiệp.

Thứ hai, sau một số những sự kiện xảy ra trên thị trường, hầu như các NHTM đang phải tăng cường khả năng thanh toán, các tổ chức tài chính đang tăng cường các sự phòng thủ. Vì vậy thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động từ dân cư tăng khá mạnh. Lãi suất huy động tiền gửi của một số ngân hàng có thể chạm mức 10%/năm. Các doanh nghiệp sẽ có khá ít cơ hội để tiếp cận với nguồn vốn nhằm tái cấu trúc các khoản vay và có thể thanh toán cho các khoản nợ trong ngắn hạn.

Trong bối cảnh cả thị trường trái phiếu cũng như nguồn vốn từ ngân hàng thắt chặt, ngoài vấn đề lãi suất, việc đồng VND đang mất giá so với đồng USD cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Mặc dù VND có mức độ giảm giá ít nhất trong khu vực, tuy nhiên vẫn giảm khoảng 9% so với đồng USD, ảnh hưởng khá nhiều đến các doanh nghiệp có tỷ trọng vay bằng đồng USD cao. Nó cũng ảnh hưởng đến nghĩa vụ thanh toán nợ của Việt Nam. Nhìn chung khi năm 2022 xác định sắp kết thúc và bước sang năm 2023, có vẻ như nền kinh tế của chúng ta gặp khó khăn nhiều hơn.

Về tổng cầu thế giới và trong nước, bà Trần Thị Khánh Hiền cho biết, hầu hết các tổ chức tài chính lớn đều đã dự báo các nền kinh tế đang có xu hướng rơi vào suy thoái. Chỉ số sản xuất công nghiệp của Mỹ đã có mức sụt giảm xuống dưới mức 50 điểm trong tháng 10 vừa qua, đánh dấu một sự suy thoái khá mạnh về nhu cầu của nền kinh tế Mỹ.

Việt Nam có đà phục hồi duy trì khá tốt trong 9 tháng đầu năm. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, một số trụ cột tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam dường như đã mất đà hoặc chậm lại. Xuất khẩu có xu hướng tăng trưởng chậm lại rõ rệt trong 2 tháng gần đây. Lượng đơn hàng sụt giảm khá nhanh chóng từ 60-70%, thậm chí sụt giảm về giá, tức là người mua chỉ yêu cầu xuất khẩu với mức giá 40%- 50% so với trước đây. Như vậy có nghĩa cầu tiêu dùng của Mỹ cũng như của Trung Quốc chậm lại.

Ngay cả trong nước vấn đề về cầu tiêu dùng cũng suy giảm. Theo con số của một doanh nghiệp lớn liên quan đến việc bán lẻ hàng điện tử và điện máy thì trong tháng 10 vừa qua doanh thu từ điện máy và điện thoại giảm khoảng 18% trong khi mùa Worldcup đang diễn ra và thông thường nhu cầu về tivi tăng rất mạnh.

Tất nhiên trong bức tranh đó, chúng ta vẫn còn một số động lực. Đó là dư địa từ việc phục hồi từ du lịch mà đặc biệt là du lịch quốc tế được kỳ vọng sẽ phục hồi ở mức khoảng từ 80% so với thời điểm trước Covid. Động lực thứ hai là đẩy mạnh giải ngân đầu tư công. Lúc đó sẽ khơi thông được một nguồn vốn gần 900.000 tỷ đồng trong hệ thống để tiếp tục hỗ trợ cho sự phục hồi của nền kinh tế.

Thứ ba là Việt Nam đang nỗ lực để phù hợp với những cam kết của Việt Nam ở COP26, chuyển dịch từ những nguồn năng lượng ô nhiễm sang năng lượng xanh hơn. Đây là một trong những động lực để thúc đẩy nền kinh tế.

“Dưới áp lực của những yếu tố, những thách thức bên trong và bên ngoài thì rõ ràng các tổ chức tài chính, các thành viên tham gia thị trường đang có xu hướng tăng cường sự phòng thủ và tìm cách bán đi những tài sản có tính thanh khoản cao nhất. Trong đó tài sản ở trên thị trường chứng khoán cũng như tài sản của trái phiếu doanh nghiệp có tính thanh khoản nhất, gây ra sự sụt giảm về khối lượng giao dịch cũng như về điểm số ở trên thị trường chứng khoán.

Điều này cũng xảy ra với hầu hết các thị trường chứng khoán các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc hay Mỹ. Và với đặc thù thị trường chứng khoán mới nổi như Việt Nam, sự tham gia của các nhà đầu tư cá nhân và là nhà đầu tư không chuyên rất nhiều, khoảng 90% trong tổng khối lượng giao dịch hằng ngày. Họ khá là nhanh nhạy, tuy nhiên dễ bị ảnh hưởng bởi những tin đồn cũng như dễ bị ảnh hưởng bởi những hiện tượng FOMO, góp phần làm cho thị trường của chúng ta đang rơi vào tình trạng quá bán như vừa qua”, bà Hiền trao đổi trong Talk show Phố Tài chính trên VTV8.

Trong bối cảnh thanh khoản của thị trường tuy có cải thiện nhưng vẫn chưa được dồi dào, theo bà Hiền sóng ngành như những năm trước khó có thể xảy ra. Tuy nhiên, nếu chọn ra một vài ngành thì cũng có một số ngành được hưởng lợi từ những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, trong đó một số nhóm ngành liên quan đến giải ngân đầu tư công.

Giá nguyên vật liệu xây dựng đang có xu hướng giảm cũng như cùng với những nỗ lực của cơ quan nhà nước trong thời trong thời gian gần đây, nhiều khả năng giải ngân đầu tư công sẽ tăng tốc trong những tháng tới.

Bên cạnh đó, một số nhóm ngành liên quan đến hàng không, đặc biệt liên quan đến việc mở cửa thị trường du lịch quốc tế thì những khó khăn đã qua đi. Nếu Trung Quốc mở cửa đúng như dự định vào tháng 4/2023 hoặc sớm hơn thì đó là những triển vọng rất tốt với nhóm ngành du lịch hàng không.

Thứ ba là những nhóm ngành có xu hướng dài hạn như năng lượng xanh hoặc những nhóm ngành liên quan đến nền kinh tế số là những nhóm ngành luôn luôn có sự ổn định nhất định và có triển vọng tốt trong ít nhất 3-5 năm tới.

Ngoài việc tập trung vào nhóm ngành, nhà đầu tư cũng nên tập trung vào câu chuyện của từng cổ phiếu. Có thể lựa chọn được những doanh nghiệp đầu ngành, có rủi ro thấp đối với việc lãi suất tăng, có một cơ cấu tài chính vững mạnh và có mức định giá khá hấp dẫn so với trung bình 3 năm gần đây.

Hương Ly

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700