Tỉnh táo để tìm “cơ hội” trong… “rủi ro”

09:01 | 07/02/2020

Sau một vài phiên chao đảo do bị ảnh hưởng tiêu cực từ dịch viêm đường hô hấp do virus corona chủng mới (nCoV) và thị trường chứng khoán (TTCK) thế giới, TTCK Việt Nam đang bình ổn trở lại.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 6/2
Chứng khoán chiều 6/2: Giao dịch tích cực

Các chuyên gia cho rằng, nhà đầu tư (NĐT) vì thế cần bình tĩnh, thậm chí có thể tỉnh táo để tìm “cơ hội trong rủi ro”. Kết thúc phiên giao dịch ngày 6/2, chỉ số VN-Index đã hồi phục, tăng 12,63 điểm lên 938,54 điểm, thanh khoản có giảm nhưng đã có 264 mã tăng giá, 52 mã đứng giá và 83 mã giảm giá…  

Theo đánh giá của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), sau khi mở cửa thị trường trở lại sau kỳ nghỉ tết, dịch bệnh corona bùng nổ với diễn biến phức tạp, lan 31/31 tỉnh thành của Trung Quốc và lây nhanh sang 26 nước đã khiến cho TTCK toàn cầu lao dốc, nhất là các TTCK châu Á. TTCK Việt Nam cũng không ngoại lệ và đã chịu những tác động nhất định.

Ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, phiên giao dịch đầu tiên của năm đã làm TTCK Việt Nam giảm gần 45 điểm. Đây là mức giảm điểm khá sâu do yếu tố ảnh hưởng bị cộng dồn sau kỳ nghỉ tết dài ngừng giao dịch.

Tuy nhiên, trong phiên chiều ngày 3/2, thị trường đã có dấu hiệu hồi phục tích cực, kết phiên chỉ số VN-Index chỉ còn giảm gần 8,5 điểm, tuy nhiên thanh khoản ở mức khá cao so với các phiên trước đó, đạt giá trị gần 5,8 nghìn tỷ đồng, sang phiên giao dịch tiếp theo, tình hình đã có vẻ ổn định trở lại, đà giảm điểm được cải thiện hơn khi phiên giao dịch ngày 4/2, VN-Index tăng nghẹ gần 1 điểm, sang phiên ngày 5/2, chỉ số VN-Index có giảm nhẹ nhưng thanh khoản vẫn duy trì mức hơn 5,6 nghìn tỷ đồng. 

Đến phiên giao dịch sáng 6/2, chỉ số VN-Index đã tăng khá tốt với gần 8 điểm, đạt 933,41 điểm… TTCK trong nước đang có dấu hiệu ngày càng tích cực hơn, nhiều cổ phiếu bluechip đã nhận được sự quan tâm tích cực của dòng tiền.

Nhìn sang khối ngoại, thống kê tuần từ 20/01 - 31/01 cho thấy, Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn nước ngoài khá tích cực với giá trị khoảng 4 triệu USD. Đây là điểm rất tích cực so với các thị trường trong khu vực Đông Nam Á, khi các thị trường này bị các NĐT rút mạnh tới 102 triệu USD, mức cao nhất trong 8 tháng qua. 

Ông Trần Văn Dũng - Chủ tịch UBCKNN cho biết, sau thời điểm dịch nCoV bùng phát mạnh (từ ngày 20/1), NĐT nước ngoài đã thực hiện bán ròng rất mạnh lên đến 2.824,8 triệu USD tại các TTCK châu Á trong 2 tuần cuối tháng 1. Trong khi đó,cũng trong tuần từ 20/01 - 31/01/2020, trên TTCK Việt Nam, khối ngoại vẫn duy trì mua ròng với giá trị ghi nhận khoảng trên 490 tỷ đồng. Còn trên thị trường trái phiếu chính phủ, tính trong cả tháng 1/2020, họ vẫn mua ròng khoảng 700 tỷ đồng…

“Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng, nhiều khả năng giao dịch của NĐT nước ngoài cũng mang tính thị trường và không thể hiện xu hướng bán ròng, đặc biệt không thể hiện dấu hiệu rút ròng trên TTCK Việt Nam”, ông Trần Văn Dũng cho hay.

Hiện vẫn còn quá sớm để đánh giá chính xác những tác động kinh tế mà dịch nCoV gây ra. Nhưng những tác động tiêu cực lên TTCK toàn cầu trong thời gian tới, sẽ phụ thuộc rất lớn vào những diễn biến lây lan của dịch bệnh, đặc biệt là tại Trung Quốc. 

Với TTCK Việt Nam, việc bùng phát của dịch cúm nCoV đã tạo ra hệ lụy khá lớn khiến thị trường giảm điểm sâu trong những phiên gần đây. Diễn biến của dịch nCoV lần này có nhiều điểm tương đồng với dịch SARS cách đây gần 17 năm. Nhưng lúc đó TTCK Việt Nam còn khá non trẻ vì vậy đại dịch SARS đã không có nhiều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến TTCK Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế cũng như TTCK Việt Nam đã phát triển và hội nhập sâu rộng với quốc tế nên Việt Nam có xu hướng chịu những tác động và tổn thương từ dịch nCoV chủng mới lớn hơn so với dịch SARS 17 năm trước đó.

Tuy vậy, ở một góc nhìn tích cực hơn, sự ổn định của kinh tế vĩ mô trong nước, những cải thiện trong chính sách và môi trường kinh doanh của Việt Nam cùng với sức mạnh nội tại của TTCK trong nước với kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết khá lạc quan với 86,1% tổng số công ty đã thực hiện báo cáo kết quả kinh doanh quý IV/2019 có lãi, cao hơn mức 84,1% của cùng kỳ năm 2018; độ minh bạch, quản trị công ty được cải thiện; ngày càng đa dạng sản phẩm phòng vệ rủi ro là các yếu tố nhà đầu tư cần xem xét để có thái độ thận trọng, tránh phản ứng thái quá.

“Chỉ số P/E của TTCK Việt Nam hiện được định giá ở mức 15,07 lần, thấp hơn khá nhiều so với các thị trường trong khu vực như Ấn Độ (24,57), Indonesia (19,88), Nhật Bản (18,92), Malaysia (18,28), Philippines (16,94), Thái Lan (18,94). Tôi cho rằng, đây là yếu tố hấp dẫn, có sức hút đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài đến TTCK Việt Nam”, ông Dũng nhấn mạnh.

Thái Hương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.092 23.272 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.083 23..293 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.250
50.640
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.250
50.620
Vàng SJC 5c
50.250
50.640
Vàng nhẫn 9999
49.950
50.500
Vàng nữ trang 9999
49.650
50.400