Vốn ngân sách cho đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 tăng 1,43 lần so với 2016-2020

15:40 | 24/07/2021

Tiếp tục Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV, sáng ngày 24/7, Quốc hội nghe Tờ trình của Chính phủ về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 (Kế hoạch) và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội.

von ngan sach cho dau tu cong trung han giai doan 2021 2025 tang 143 lan so voi 2016 2020 Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ: Quốc hội sẽ quyết nghị về phòng, chống COVID-19
von ngan sach cho dau tu cong trung han giai doan 2021 2025 tang 143 lan so voi 2016 2020 Quốc hội thông qua cơ cấu Chính phủ nhiệm kỳ mới

Trình bày tờ trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, dự kiến tổng mức vốn ngân sách nhà nước cho Kế hoạch là 2.870 nghìn tỷ đồng, bao gồm: 1.500 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách trung ương và 1.370 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách địa phương.

von ngan sach cho dau tu cong trung han giai doan 2021 2025 tang 143 lan so voi 2016 2020

Tổng số dự án thực hiện trong giai đoạn 2021-2025 là gần 5.000 dự án, giảm hơn một nửa so với giai đoạn 2016-2020, trong đó khởi công mới khoảng 2.236 dự án. Mức vốn bố trí bình quân cho một dự án là 210,4 tỷ đồng, cao gấp 2,4 lần so với giai đoạn 2016-2020 (88 tỷ đồng/dự án).

"Phấn đấu tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công bình quân giai đoạn 2021-2025 trên 90%; số dự án hoàn thành trong giai đoạn chiếm trên 80% tổng số dự án được bố trí vốn”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nói.

Bố trí đủ vốn đầu tư cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia và 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng của dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và đáp ứng yêu cầu tiến độ để cơ bản hoàn thành tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông; đường vành đai 3, 4 của khu vực động lực Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, kết nối vùng đồng bằng sông Cửu Long, tuyến nối Tây Nguyên với Nam Trung Bộ, khu vực miền núi phía Bắc, tuyến đường ven biển, hành lang kinh tế Đông - Tây; hoàn thành trên 1.700 km đường ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang...

Giải pháp để thực hiện Kế hoạch là huy động tối đa các nguồn lực đầu tư của nền kinh tế, trọng tâm là bảo đảm nguồn lực ngân sách nhà nước cho đầu tư tối thiểu là 2.870 nghìn tỷ đồng. Tăng cường triển khai quyết liệt hơn nữa Luật Đầu tư công, đẩy mạnh công tác chuẩn bị đầu tư, nhất là các dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm; kiên quyết cắt giảm thủ tục không cần thiết, giao dự toán, giải ngân vốn đầu tư công gắn với trách nhiệm giải trình của tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu.

Chính phủ cũng rà soát hoàn thiện các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về đầu tư công và các luật pháp có liên quan; kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, nghiên cứu sớm có quy định pháp luật phù hợp đối với việc tách giải phóng mặt bằng, tái định cư ra khỏi dự án đầu tư để đẩy nhanh tiến độ. Tiếp tục đơn giản hóa cao nhất về trình tự, thủ tục; tăng cường thực hành tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư công.

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phân cấp, phân quyền, phân công, phân nhiệm, cá thể hóa trách nhiệm đi đôi với phối hợp, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và khen thưởng, kỷ luật kịp thời, nghiêm minh. Kiên quyết cắt giảm số lượng, kiểm soát chặt chẽ số dự án và thời gian bố trí vốn, bảo đảm mục tiêu, hiệu quả, tính liên tục trong đầu tư công.

Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị và tổ chức thực hiện dự án đầu tư công, bảo đảm phù hợp với thực tế, hạn chế phải điều chỉnh trong quá trình triển khai; kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô, tổng mức đầu tư của từng dự án. Kiên quyết siết chặt kỷ luật, tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, hậu kiểm, xử lý nghiêm vi phạm; kiểm soát chặt chẽ mục tiêu, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư; bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, phòng, chống tham nhũng, lợi ích nhóm.

Dự kiến kết quả của Kế hoạch là sẽ xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội, hoàn thành các công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu, hạ tầng thông tin, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số…

Theo đó đến năm 2025, cơ bản hoàn thành các tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông; đường vành đai 3, vành đai 4 khu vực động lực Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; tuyến nối vùng Nam Trung Bộ với Tây Nguyên, đầu tư hạ tầng cho phát triển vùng khu vực miền núi phía Bắc, các công trình đường bộ cao tốc và đường thủy nội địa cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long; hoàn thành trên 1.700 km đường ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang; hành lang kinh tế Đông - Tây; hoàn thành 84 dự án kết nối liên vùng...

Tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất các trường Đại học quốc gia, đại học có tính liên ngành, các cơ sở đào tạo nghề chất lượng cao góp phần phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ quản lý, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp cận trình độ các nước ASEAN 4 và G20; nâng cao năng lực của các cơ sở nghiên cứu, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tạo những sản phẩm công nghệ lõi để làm chủ công nghệ, dẫn dắt và lan tỏa, thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo.

von ngan sach cho dau tu cong trung han giai doan 2021 2025 tang 143 lan so voi 2016 2020

Trình bày Báo cáo thẩm tra Kế hoạch này, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách Nguyễn Phú Cường cho biết, Ủy ban Tài chính, Ngân sách cơ bản tán thành. Trong đó về tổng mức đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước, đa số ý kiến trong Ủy ban cho rằng về tổng thể, vốn đầu tư công dự kiến tăng so với số kế hoạch giai đoạn 2016-2020 (tăng 1,43 lần) là tích cực.

Tuy nhiên, đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát thận trọng nguồn thu để bảo đảm tính khả thi của kế hoạch, giữ vững an toàn nợ công. Bên cạnh đó, việc xác định dự toán chi đầu tư hàng năm phải dựa trên cơ sở thu ngân sách nhà nước thực tế từ thực lực của nền kinh tế, vay đầu tư trong khả năng trả nợ, không tạo áp lực trả nợ quá lớn cho giai đoạn sau.

Về cơ cấu nguồn vốn, đa số ý kiến trong Ủy ban nhất trí với đề xuất của Chính phủ về cơ cấu vốn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương để đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương. Song cũng có một số ý kiến đề nghị Chính phủ tính toán thận trọng hơn, tránh xây dựng kế hoạch quá cao so với khả năng cân đối nguồn lực ngân sách trung ương.

Ủy ban cũng cơ bản nhất trí về danh mục và tổng vốn đầu tư dành cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, tuy nhiên việc hoàn thành thủ tục triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia cho đến nay là quá chậm. Đồng thời, đề nghị Chính phủ rà soát lại nhiệm vụ, mục tiêu, đối tượng, địa bàn để bảo đảm không trùng lắp, gây lãng phí ngân sách.

Về phân bổ cho các dự án quan trọng quốc gia, Ủy ban cơ bản thống nhất với dự kiến bố trí nguồn vốn (khoảng 104,5 nghìn tỷ đồng) và các dự án trọng điểm khác. Đối với số vốn 78.719 tỷ đồng cho các dự án trọng điểm khác, Ủy ban đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư theo quy định trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư dự án quan trọng quốc gia, tránh việc chia nhỏ dự án không đúng quy định.

Đối với dự kiến hoàn thành 1.700 km tuyến đường ven biển trong 05 năm, đa số ý kiến trong Ủy ban cho rằng khó khả thi vì một mặt, các tuyến đường ven biển đi qua nhiều cửa sông, cửa biển, địa hình phức tạp, tính kết nối chưa rõ; mặt khác là khả năng bố trí ngân sách nhà nước để hoàn thành toàn tuyến đường chưa có cơ sở vì tuyến đường này đi qua những địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, khó bảo đảm bố trí ngân sách địa phương để thực hiện. Do đó, đề nghị Chính phủ báo cáo, giải trình rõ nội dung này.

Ngoài ra, Ủy ban cũng đề nghị Chính phủ giải trình, làm rõ một số nội dung về trật tự ưu tiên trong phương án phân bổ, như: Việc thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản, các khoản thuộc nghĩa vụ của ngân sách trung ương và vốn ứng trước; việc cấp bù chênh lệch lãi suất; các dự án chuyển tiếp; việc phân bổ vốn cho dự án khởi công mới…

Đối với số vốn đã có danh mục dự án, có đầy đủ chủ trương đầu tư, Ủy ban đề nghị sau khi Quốc hội quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025, Thủ tướng Chính phủ khẩn trương giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 bảo đảm theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Đầu tư công.

Đối với số vốn chưa có danh mục dự án hoặc dự án chưa có đầy đủ chủ trương đầu tư, Ủy ban đề nghị trình Quốc hội giao Chính phủ khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư, Quốc hội ủy quyền Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi giao kế hoạch đầu tư công trung hạn nhằm bảo đảm linh hoạt, kịp thời nhưng vẫn bảo đảm trách nhiệm của cơ quan dân cử trong phân bổ ngân sách nhà nước.

ĐP

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.605 22.835 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.635 22.835 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.615 22.835 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.610 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.630 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.633 22.848 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.600 22.830 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.630 22.810 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.650 22.810 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.950
60.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.950
60.650
Vàng SJC 5c
59.950
60.670
Vàng nhẫn 9999
51.300
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.700