12:57 | 12/03/2018

BIS khuyến nghị các NHTW nên tiếp tục bình thường hóa chính sách

Việc tăng lãi suất hoặc kết thúc những năm kích thích chưa từng có của các NHTW không nên bị ngăn cản bởi sự biến động gần đây của thị trường tài chính toàn cầu, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho biết vào ngày Chủ Nhật (11/3).

Ngân hàng Thanh toán quốc tế - BIS

Báo cáo gần đây nhất BIS - có trụ sở tại Thụy Sỹ - cho biết, sau một thời gian dài bình lặng, thị trường đã bị biến động mạnh thời gian gần đây, cộng thêm nỗi lo về chiến tranh thương mại đang làm cho nỗ lực bình thường hoá chính sách tiền tệ trở nên phức tạp hơn. Tuy nhiên, động thái hướng tới các mức lãi suất cao hơn, bắt đầu ở Mỹ và đang lan rộng ở những nơi khác, nên tiếp tục.

“Bước trên con đường (của việc bình thường hóa chính sách) đòi hỏi rất nhiều kỹ năng, sự quyết đoán, và đúng là như vậy, và cả sự may mắn”, Claudio Borio - người đứng đầu bộ phận kinh tế tiền tệ của BIS nói. “Nhưng các nhà hoạch định chính sách không cần phải sợ sự biến động như vậy. Cùng với lộ trình bình thường hóa, một số biến động có thể là bạn của họ”.

BIS là là một tổ chức quốc tế của các NHTW, thậm chí có thể nói nó là NHTW của các NHTW trên thế giới, vì vậy các báo cáo của nó được xem như là một chỉ báo về những suy nghĩ phía sau cánh cửa đóng kín của các cuộc họp hàng quý.

Nó mổ xẻ sự điều chỉnh gần đây của thị trường đã xóa đi hàng nghìn tỷ USD giá trị của thị trường cổ phiếu toàn cầu. Nó cũng phân tích kỹ lưỡng mức tăng trưởng mạnh mẽ của Mỹ và số liệu lạm phát tiền lương đã gây ra lo lắng về việc tăng lãi suất nhanh hơn.

“Thị trường chao đảo có thể không phải là cuối cùng. Các thị trường tài chính và nền kinh tế toàn cầu đang chèo thuyền trong vùng biển chưa từng ai biết”, Borio nói, đề cập tới việc rút khỏi những năm kích thích không ngừng và lãi suất thấp kỷ lục.

Tuy nhiên, báo cáo chỉ ra rằng sự biến động thị trường gần đây đã không làm thay đổi bức tranh kinh tế và tài chính. “Các điều kiện tài chính vẫn dễ dãi một cách bất thường”, báo cáo cho biết và thêm:

“Hơn nữa, trong bối cảnh đồng USD vẫn tiếp tục yếu đi - một dấu hiệu báo trước về việc nới lỏng các điều kiện tài chính, đặc biệt là đối với các nền kinh tế thị trường đang nổi”.

Tuy nhiên, “con đường (để bình thường hóa chính sách) là một đường hẹp. Và nó đòi hỏi sự hỗ trợ tích cực của các chính sách khác. Chủ nghĩa bảo hỗ đang trỗi dậy gần đây đã làm phức tạp thêm vấn đề”, Borio nói.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.260 23.350 26.270 26.742 28.947 29.410 199,90 206,97
BIDV 23.260 23.350 26.255 26.619 28.950 29.408 203,65 207,15
VietinBank 23.252 23.352 26.242 26.747 28.922 29.482 203,69 207,44
Agribank 23.255 23.340 26.259 26.611 28.976 29.414 203,71 207,22
Eximbank 23.250 23.350 26.277 26.628 29.068 29.456 204,51 207,24
ACB 23.270 23.350 26.297 26.635 29.166 29.468 204,71 207,35
Sacombank 23.264 23.356 26.328 26.690 29.141 29.496 204,58 207,66
Techcombank 23.240 23.350 26.036 26.755 28.742 29.562 203,15 208,43
LienVietPostBank 23.250 23.350 26.319 26.779 29.455 29.871 205,05 208,75
DongA Bank 23.270 23.350 26.300 26.610 29.070 29.430 203,00 207,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.340
36.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.340
36.500
Vàng SJC 5c
36.340
36.520
Vàng nhẫn 9999
35.220
35.620
Vàng nữ trang 9999
34.870
35.570