18:47 | 10/08/2018

Các ngân hàng đồng thuận ổn định lãi suất

Ngày 10/8, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam Đào Minh Tú đã có buổi làm việc với UBND TP.HCM, NHNN Chi nhánh TP.HCM và các tổ chức tín dụng trên địa bàn về kết quả hoạt động ngành Ngân hàng trong 7 tháng đầu năm 2018 và định hướng hoạt động các tháng cuối năm.

Phó Thống đốc NHNN Việt Nam Đào Minh Tú phát biểu chỉ đạo

Báo cáo tại buổi làm việc, ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc NHNN Chi nhánh TP.HCM cho biết, tính đến cuối tháng 7/2018, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn TP.HCM đạt khoảng 2,15 triệu tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong tổng vốn huy động nêu trên, huy động bằng tiền đồng chiếm 89,3% và huy động ngoại tệ đạt khoảng 10,7%; tỷ lệ tiền gửi dân cư chiếm khoảng 48,7% tổng vốn huy động.

Về dư nợ cho vay, tính đến hết tháng 7/2018, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã lên đến gần 1,93 triệu tỷ đồng, tăng 9,47% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong tổng dư nợ, cho vay bằng tiền đồng chiếm gần 90,9% và cho vay ngoại tệ khoảng 9,1%; tỷ lệ cho vay trung và dài hạn khoảng 53,2% tổng dư nợ.

Theo đánh giá của NHNN Chi nhánh TP.HCM, hoạt động ngân hàng trong 7 tháng vừa qua đạt được một số  kết quả quan trọng. Điểm nổi bật và gắn bó thiết thực nhất đối với cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế là mặt bằng lãi suất (cả huy động và cho vay) được hệ thống ngân hàng duy trì ở mức ổn định.

Bên cạnh đó, tỷ giá giữa tiền VND và USD mặc dù thời gian qua có nhiều yếu tố từ thế giới tác động nhưng vẫn giữ được sự ổn định trong tổng thể 7 tháng đầu năm; cung, cầu ngoại tệ hợp lý, ngân hàng đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp và người dân.

Trong 7 tháng vừa qua, dư nợ tín dụng duy trì tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu tín dụng ngày càng hợp lý hơn khi tỷ lệ cho vay trung và dài hạn có xu hướng giảm dần, các ngân hàng thương mại tập trung nguồn vốn nhiều hơn cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh.

Cũng theo thống kê của NHNN Chi nhánh TP.HCM, tính đến tháng 7/2018, tỷ lệ dư nợ/vốn huy động trung bình của các ngân hàng thương mại đạt khoảng 89,5%. Về cơ bản, thanh khoản của toàn hệ thống vẫn đảm bảo và được các tổ chức tín dụng tuân thủ tốt theo các quy định của NHNN.

Tại buổi làm việc, Phó Thống đốc Đào Minh Tú gợi ý một số trọng điểm để các vụ, cục chức năng và các ngân hàng thương mại tham gia thảo luận. Theo đó, các vấn đề về: ổn định lãi suất cho vay, tỷ trọng tín dụng ngoại tệ, cho vay các lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực đột phá trên địa bàn TP.HCM được Phó Thống đốc đặt vấn đề và được đa số các ngân hàng thương mại bày tỏ sự đồng thuận.

Đại diện lãnh đạo các ngân hàng như OCB, HDBank, NamABank, Sacombank… đều cho rằng việc giảm lãi suất cho vay chỉ nên tính toán ở một số lĩnh vực, ngành nghề. Về cơ bản, nên duy trì sự ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay như hiện nay là phù hợp với các diễn biến vĩ mô của nền kinh tế và đảm bảo hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Về lĩnh vực cho vay tiêu dùng, NHNN Chi nhánh TP.HCM và các ngân hàng thương mại trên địa bàn cho rằng hiện nay có tình trạng khách hàng “ẩn nấp” vào hoạt động cho vay tiêu dùng để vay vốn kinh doanh bất động sản. Điều này dẫn tới tín dụng tiêu dùng tăng nhanh. Do vậy, các tổ chức tín dụng cần tăng cường các giải pháp kiểm tra, thẩm định để phân loại các hợp đồng vay và thống kê chính xác hơn số liệu dư nợ đối với từng lĩnh vực nhằm giảm thiểu rủi ro vốn.

Kết luận tại buổi làm việc, Phó Thống đốc Đào Minh Tú đánh giá cao những hoạt động của ngành Ngân hàng trên đại bàn TP.HCM. Phó Thống đốc cũng cho rằng mức tăng trưởng tín dụng chung của cả nước trong 7 tháng đầu năm vừa qua hơi chậm so với các năm trước nhưng phù hợp với thực tế diễn biến thị trường. Tình hình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng hiện đang được các đơn vị thực hiện khá tích cực và đã thông qua được phương án tài cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém nhất trong hệ thống.

Trong các tháng cuối năm, Phó Thống đốc đề nghị NHNN Chi nhánh TP.HCM và các ngân hàng thương mại trên địa bàn tiếp tục coi hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng là trọng tâm. Trong ngắn hạn, NHNN sẽ tiếp tục ổn định mặt bằng lãi suất và chưa đặt ra yêu cầu tăng hoặc giảm lãi suất huy động và cho vay, do vậy các ngân hàng chủ động tăng trưởng tín dụng gắn với các chỉ an toàn vốn.

Đối với các lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực đột phá trên địa bàn TP.HCM, Phó Thống đốc cũng đề nghị hệ thống ngân hàng thương mại tiếp tục đẩy mạnh cung ứng, tài trợ vốn, đồng thời tiếp tục triển khai các hoạt động kết nối giữa ngân hàng và doanh nghiệp để gắn kết nguồn vốn tín dụng với nhu cầu thực tiễn của thị trường.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.350 26.151 26.915 29.358 29.828 213,84 222,61
BIDV 23.225 23.345 26.286 27.035 29.371 29.874 214,10 219,52
VietinBank 23.212 23.342 26.255 26.990 29.290 29.930 214,21 220,71
Agribank 23.245 23.345 26.076 26.474 29.280 29.761 214,44 218,35
Eximbank 23.220 23.330 26.292 26.655 29.467 29.874 215,08 218,05
ACB 23.210 23.330 26.284 26.645 29.508 29.838 214,96 21791
Sacombank 23.184 23.336 26.293 27.050 29.455 29.859 214,24 218,80
Techcombank 23.210 23.350 26.044 26.909 29.111 29.992 21368 221,01
LienVietPostBank 23.210 23.330 26.218 26.748 29.458 29.853 214,54 218,94
DongA Bank 23.240 23.330 26.320 26.640 29.460 29.840 211,60 217,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
38.450
38.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
38.450
38.700
Vàng SJC 5c
38.450
38.720
Vàng nhẫn 9999
38.430
38.930
Vàng nữ trang 9999
37.900
38.700