09:05 | 18/03/2019

Chiến thuật đầu tư khi thị trường giảm tốc

2018 có thể xem là năm tốc độ tăng trưởng về lợi nhuận các DN niêm yết đạt đỉnh. Theo báo cáo kết quả kinh doanh năm 2018 của Công ty Chứng khoán SSI, tới hết ngày 25/2/2019, tổng lợi nhuận sau thuế năm của 1.005 DN (chiếm 98% vốn hóa trên sàn HoSE, HNX và UPCoM) đã công bố báo cáo tài chính năm là 276.170 tỷ đồng, tăng trưởng 18,9% so với năm 2017.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 11-15/3
Muốn phát triển, TTCK phải tạo được niềm tin cho NĐT

Đứng đầu tăng trưởng lợi nhuận là ngành bất động sản với mức tăng 78%. Các ngành khác có sự tăng trưởng tốt như dịch vụ tài chính, hàng và dịch vụ công nghiệp; thực phẩm và đồ uống; điện, nước và xăng dầu khí đốt.

Tuy nhiên, kể từ năm 2019, do có nhiều thách thức lớn hơn như lãi suất ngân hàng có thể không còn đứng ở mức năm 2018, bóng ma của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đi kèm với chính sách gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại của nhiều quốc gia trên thế giới, lợi nhuận của các công ty niêm yết có thể sẽ giảm tốc.

Theo dự báo của Quỹ đầu tư VinaCapital, tăng trưởng lợi nhuận trên cổ phần của Việt Nam (EPS) sẽ giảm xuống còn 12% – 13% trong năm 2019. Đơn cử như lĩnh vực bất động sản dự kiến sẽ giảm mạnh tốc độ tăng trưởng EPS từ 100% xuống chỉ còn 17%. Nguyên do số lượng các dự án mở bán mới trong năm 2018 đã sụt giảm đáng kể làm ảnh hưởng đến khả năng ghi nhận doanh thu và lợi nhuận trong năm nay của các công ty.

Còn nhớ trong giai đoạn 2014-2017, tổng số dự án nhà ở mới mở bán tại TP.HCM và Hà Nội năm sau cao gấp đôi năm trước, giúp các chủ đầu tư liên tục gia tăng lợi nhuận. Nhóm cổ phiếu bất động sản cũng chiếm khoảng 1/4 tổng vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam nên sẽ tác động lớn đến tốc độ tăng trưởng EPS toàn thị trường.

Đối với cổ phiếu ngân hàng, VinaCapital cho rằng tăng trưởng EPS của các ngân hàng sẽ giảm tốc 4% do tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm nay sẽ giảm xuống còn 14%, trong khi lợi nhuận từ thoái vốn trong đầu tư vốn và các công ty con sẽ không còn thuận lợi như trước.

Ở khía cạnh khác, Quỹ Dragon Capital cho rằng tốc độ tăng trưởng của chứng khoán Việt Nam thời gian qua rất nhanh, khiến cho tổng quy mô thị trường trên GDP đứng ở mức rất cao trong năm 2018 (72%). Điều này có thể sẽ mang tới những thách thức đáng kể hơn trong năm nay nếu GDP và thương mại diễn biến không thuận lợi.

Vậy trong bối cảnh lợi nhuận tăng trưởng chậm hơn, chiến thuật đầu tư nào sẽ hiệu quả dành cho các nhà đầu tư năm tài chính 2019?

Quỹ VinaCapital cho rằng giá cổ phiếu vốn hóa tầm trung sẽ diễn biến vượt trội trong năm 2019, sau một năm 2018 đầy thách thức với các cổ phiếu vốn hóa lớn. Lý do là hoạt động kinh doanh cốt lõi của nhiều cổ phiếu vốn hóa tầm trung của Việt Nam mang tính phòng vệ bởi những công ty này tập trung vào những khía cạnh quan trọng trong kinh tế thường nhật.

Theo ông Andreas Vogelsanger - Giám đốc điều hành Asia Frontier Capital, hơn 90% cổ phiếu mà quỹ nghiên cứu đang rẻ hơn so với định giá chung của thị trường và hơn một nửa trong số chúng có chỉ số P/E nhỏ hơn 8x. “Nhờ xu thế dòng vốn đang hướng về các thị trường mới nổi như Việt Nam, chúng tôi cho rằng sẽ có nhiều hơn các nhà đầu tư tìm kiếm các cổ phiếu giá trị, điều dễ được tìm thấy trong nhóm các cổ phiếu vừa và nhỏ ở Việt Nam”, ông Andreas Vogelsanger nói.

Về phần mình, ông Ngô Thế Triều - Giám đốc điều hành Quỹ Eastspring Vietnam cho rằng, các cổ phiếu khu công nghiệp, dệt may và các công ty công nghệ thông tin sẽ có khả năng tăng giá lạc quan trong năm nay.

Tương tự như thị trường Việt Nam, thị trường chứng khoán toàn cầu dự kiến cũng bước vào giai đoạn tăng trưởng chậm lại. Trong bối cảnh đó, bà Lisa Shalett - Giám đốc đầu tư chính (CIO) của Morgan Stanley khuyên các nhà đầu tư nên tập trung vào các cổ phiếu có chất lượng cao nhưng chưa được định giá đúng tầm trên thị trường (undervalue).

Bà cũng khuyến nghị gia tăng mô hình đầu tư chủ động (active) hơn là bị động (passive) do hình thức chủ động sẽ linh hoạt hơn một khi các biến động của thị trường gia tăng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.400
39.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.400
39.700
Vàng SJC 5c
39.400
39.720
Vàng nhẫn 9999
39.200
39.700
Vàng nữ trang 9999
38.900
40.150