14:35 | 11/10/2018

Chủ tịch Standard Chartered: Đừng phản ứng thái quá trước biến động của chứng khoán

Chủ tịch Standard Chartered José Viñals kêu gọi nhà đầu tư không bi kịch hóa tình hình lúc này, giữa bối cảnh chứng khoán châu Á vừa có phiên “hoảng loạn”.

TIN LIÊN QUAN
Chứng khoán sáng 11/10: Thị trường hoảng loạn, VN-Index mất gần 50 điểm
Chứng khoán châu Á giảm mạnh sau vết trượt của phố Wall
Thị trường vàng ngày 11/10: USD, chứng khoán suy yếu đẩy giá vàng đi lên
Chứng khoán Mỹ ‘hoảng loạn’: Trump đổ lỗi cho Fed

“Chúng ta không nên phản ứng thái quá với các biến động của thị trường,” ông nói với CNBC vào sáng thứ Năm.

Sau đà trượt dài của chứng khoán Mỹ hôm thứ Tư, sáng nay, hàng loạt thị trường chứng khoán châu Á “nối gót”.

Chỉ số Nikkei của Nhật Bản giảm -3,89%. Chỉ số Shanghai Composite cũng đã giảm 3,89%. Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông giảm 3,82%... Nhiều chỉ số khác cũng ở tình trạng giảm điểm tương tự.

Diễn biến thị trường chứng khoán toàn cầu chỉ trong vài phiên gần đây đã cho thấy sắc đỏ “chiếm quyền”. Một sự “hoảng loạn” đang lan truyền.

Tuy nhiên, bình luận về diễn biến thị trường vừa qua, José Viñals lưu ý “liệu tình hình hiện nay đã là bi kịch chưa!” ông kêu gọi nhà đầu tư “quan tâm hơn tới những gì đang diễn ra”.

“Mọi người trong chúng ta cần nhìn nhận xuất phát từ thực tế để đưa ra các đánh giá” ông nói.

“Trong một bối cảnh mà lãi suất đang tăng lên và triển vọng tăng trưởng kinh tế (nhiều nước châu Á) đã được điều chỉnh giảm đáng kể,” ông nói thêm, “thực trạng đó sẽ làm bốc hơi một mức giá trị nào đó ra khỏi thị trường vốn.”

Tuy nhiên, Viñals cho biết, nhiều nền kinh tế trên toàn cầu và Mỹ vẫn đang phát triển mạnh mẽ, cùng với kỳ vọng và dự đoán rằng tăng trưởng các nước này sẽ được “giữ ở mức tốt” cho năm nay và năm tiếp theo.

Liên quan đến câu hỏi liệu chiến tranh thương mại liệu có là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, Viñals nói: “Đương nhiên, cuộc xung đột thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang tác động đến niềm tin kinh doanh,” nhất là về đầu tư và thương mại.

“Nó được cho là tác động đến niềm tin kinh doanh, bởi vì đây là diễn biến không tốt cho bất kỳ nước nào trên thế giới, mà đầu tiên là hai nước tham gia tranh chấp thương mại,” ông nói.

Đầu tư, theo Viñals, không mở rộng nhanh ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là tại các thị trường mới nổi.

Tuy nhiên, sự tiết chế tăng trưởng đầu tư và mở rộng thương mại chủ yếu gây ra bởi tâm lý tiêu cực “đã không chuyển thành sự gia tăng rủi ro khoản nợ, hoặc điều gì tương tự như vậy,” ông nói thêm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 26.035 26.766 29.602 30.076 202,43 210,81
BIDV 23.150 23.250 26.004 26.376 29.602 30.084 207,35 211,01
VietinBank 23.139 23.249 26.031 26.786 29.574 30.134 207,42 213,92
Agribank 23.155 23.235 25.966 26.340 29.351 29.807 207,68 211,26
Eximbank 23.140 23.240 26.010 26.358 29.690 30.087 208,24 211,02
ACB 23.160 23.240 25.998 26.439 29.744 30.173 207,94 211,46
Sacombank 23.157 23.259 26.064 26.468 29.761 30.171 207,35 211,93
Techcombank 23.130 23.250 25.782 26.505 29.379 30.223 206,80 212,32
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.886 26.450 29.664 30.201 207,43 211,97
DongA Bank 23.170 23.240 26.020 26.310 29.460 29.820 207,30 211,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.800
37.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.800
37.000
Vàng SJC 5c
36.800
37.020
Vàng nhẫn 9999
36.800
37.200
Vàng nữ trang 9999
36.550
37.150