16:57 | 18/09/2019

Chứng khoán phiên 18/9: Không vượt được ngưỡng tâm lý, VN-Index giảm về còn 995,15 điểm

Tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước thời điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố chính sách lãi suất sau phiên họp Ủy ban Thị trường Mở FOMC (dự kiến 1h ngày 19/9 theo giờ Việt Nam) là nguyên nhân chính dẫn đến việc VN-Index chưa thể bứt phá qua mốc tâm lý 1000 điểm trong phiên giao dịch hôm nay.

Bên cạnh đó, cổ phiếu nhóm dầu khí bị ảnh hưởng trực tiếp từ việc giá dầu thế giới đột ngột quay đầu giảm mạnh đêm qua cũng là một nguyên nhân níu chân các chỉ số chứng khoán. 

Diễn biến thị trường cho thấy, tâm lý hưng phấn của nhà đầu tư tiếp tục được duy trì từ phiên hôm qua khi chỉ số VN-Index lên mức cao nhất ngày trong khoảng 15 phút đầu giờ giao dịch. Tuy nhiên, lực cung tăng mạnh khi chỉ số tiếp cận ngưỡng 1000 điểm đã ép VN-Index quay đầu trở lại cho đến khi đóng cửa.

Đóng cửa phiên 18/9, VN-Index giảm 1,59 điểm (-0,16%) xuống 995,15 điểm. Tổng khối lượng giao dịch đạt 191,04 triệu đơn vị, đạt giá trị 4.624 tỷ đồng, giảm 17,5% về khối lượng, nhưng tăng 3% về giá trị so với phiên hôm qua. Trong đó, giao dịch thỏa thuận đóng góp 50,47 triệu đơn vị, giá trị 1.475,4 tỷ đồng, với đóng góp lớn đến từ TCB (14,16 triệu đơn vị, giá trị 320 tỷ đồng).

Về diễn biến nhóm ngành, cổ phiếu dầu khí hôm nay là tâm điểm chú ý của thị trường khi giá dầu thế giới đêm hôm qua quay đầu giảm mạnh sau khi tăng sốc trong phiên giao dịch đầu tuần.

Các mã cổ phiếu dầu khí vốn hóa lớn, thu hút dòng tiền thời gian qua như GAS, PVS, PVD, PLX đều giảm mạnh trong phiên giao dịch hôm nay. Cụ thể, GAS giảm 2,9% xuống còn 104 nghìn/cổ phiếu;  PVS giảm 0,3% xuống còn 20.4 nghìn/cổ phiếu; PVD giảm 0,25% xuống còn 18.25 nghìn/cổ phiếu. Đáng lưu ý, cổ phiếu PLX tiếp tục có phiên giảm mạnh thứ 2 liên tiếp khi giảm 1,2% xuống còn 61.3 nghìn/cổ phiếu.

Đối với nhóm cổ phiếu dẫn dắt chỉ số là ngân hàng, phiên giao dịch hôm nay ghi nhận sự phân hóa khá rõ rệt đối với các mã cổ phiếu.

Ở nhóm tăng giá, BID vẫn là tên tuổi sáng giá khi tăng nhẹ lên 0,15% lên 41.15 nghìn/cổ phiếu. Đây là phiên tăng giá thứ 4 liên tiếp của BID, giúp cổ phiếu này tiếp cận vùng giá đỉnh tháng 4/2018. Các mã ngân hàng tăng giá khác có CTG, MBB, VPB. Nhóm tham chiếu gồm các trụ như VCB, TCB.

Đối với nhóm cổ phiếu liên quan như VIC, VHM, VRE có diễn biến trái chiều trong phiên giao dịch hôm nay. Cụ thể, các mã VIC, VRE giảm nhẹ tương ứng mức giảm 0,6% và 0,25%. Cổ phiếu VHM tăng nhẹ 0,1% lên 90.4 nghìn/cổ phiếu.

Các mã cổ phiếu công nghệ lớn tiêu biểu như FPT, MWG đều có dấu hiệu chốt lời mạnh sau chuỗi ngày tăng giá kỷ lục. Kết phiên, FPT giảm 1,2% còn 56.4 nghìn/cổ phiếu; MWG giảm 1,4% còn 122 nghìn/cổ phiếu.

Khối ngoại hôm nay ghi nhận một phiên giao dịch khá tích cực khi đã có phiên mua ròng với giá trị đạt 50 tỷ đồng, chấm dứt chuỗi 5 phiên liên tiếp bán ròng.

Về thanh khoản, ROS quay trở lại là tên tuổi quen thuộc khi có thanh khoản tốt nhất sàn với 18 triệu đơn vị, đóng cửa tăng nhẹ 0,75% lên 26.900 đồng.

Ngược lại, trên sàn HNX, chốt phiên HNX-Index tăng 0,06 điểm (+0,06%), lên 102,29 điểm. Tổng khối lượng giao dịch đạt 25,4 triệu đơn vị, giá trị 321 tỷ đồng, giảm 20% về khối lượng và 31% về giá trị so với phiên hôm qua.

Như vậy, với 25,4 triệu đơn vị và 320 tỷ đồng giá trị giao dịch, HNX-Index giảm 20% về khối lượng và 31% về giá trị so với phiên hôm qua.

Đà tăng nhẹ của HNX-Index chủ yếu nhờ sự tăng giá nhẹ của cổ phiếu trụ cột ACB khi kết phiên ACB tăng 0,45% lên 22.400 đồng với 1,54 triệu đơn vị được khớp.

Một cổ phiếu trụ khác là VCS gặp áp lực chốt lời khi giảm 1,6% xuống còn 92.2 nghìn/cổ phiếu sau chuỗi 5 phiên tăng giá mạnh gần 10%.

Về thanh khoản, các mã như PVS, ACB, CEO là những mã hút thanh khoản lớn nhất trong phiên hôm nay, trong đó PVS có phiên thứ 3 liên tiếp dẫn đầu thanh khoản tại HNX.

Đối với thị trường chứng khoán phái sinh, phiên giao dịch hôm nay ghi nhận cả 4 hợp đồng đều tăng giá. Đáng lưu ý là trước phiên ATC, cả 4 hợp đồng trên đều giảm giá, tuy nhiên lực mua tăng mạnh trong phiên ATC đã giúp cả 4 hợp đồng đều quay đầu tăng giá lúc đóng cửa.

Phiên giao dịch hôm nay cũng ghi nhận hợp đồng tương lai chỉ số VN30 tháng 10 tiếp tục tăng mạnh khối lượng từ 6265 hợp đồng lên 12.577 hợp đồng, tương ứng mức tăng hơn 100% so với phiên hôm qua

Đáng chú nhất trong phiên giao dịch hôm nay là hợp đồng tương lai có kỳ hạn dài nhất VN30F2003 tăng đột biến gần 380% từ 133 hợp đồng lên 491 hợp đồng. Điều này phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư về diễn biến thị trường tích cực trong khoảng thời gian 6 tháng tới.

Như vậy, với việc basic hợp đồng tương lai chỉ số VN30 tháng 9 thu hẹp khoảng cách với VN30 xuống còn 2,98 điểm trong phiên hôm nay, dự kiến chỉ số sẽ còn thay đổi mạnh trong phiên đáo hạn ngày mai.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.420
41.710
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.420
41.690
Vàng SJC 5c
41.420
41.710
Vàng nhẫn 9999
41.400
41.850
Vàng nữ trang 9999
40.890
41.690