14:00 | 18/07/2019

Ngân hàng lạc quan về tình hình kinh doanh:

Cơ sở của kỳ vọng

Kết quả cuộc điều tra xu hướng kinh doanh của các TCTD quý III/2019 vừa được NHNN Việt Nam công bố mới đây toát lên sự lạc quan của các TCTD về triển vọng kinh doanh trong năm 2019...

Hoạt động ngân hàng chuyển biến tích cực
Sẽ có quy định mới về dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng

Theo đó, có tới 85,4% TCTD kỳ vọng tình hình kinh doanh sẽ “cải thiện” trong quý III/2019 và 88,5% TCTD kỳ vọng tình hình kinh doanh tổng thể trong năm 2019 “cải thiện” hơn so với năm 2018, trong đó 20-27,4% TCTD kỳ vọng mức độ là “cải thiện nhiều”.

Ảnh minh họa

Theo các chuyên gia ngân hàng, sự lạc quan này là hoàn toàn có cơ sở sau khi các TCTD đã thu được kết quả kinh doanh khá tốt trong nửa đầu năm. Quả vậy, kết quả cuộc điều tra cũng cho thấy có tới 76% các TCTD nhận định tình hình kinh doanh quý II/2019 cải thiện tốt hơn so với quý I/2019, trong đó có 15,6% đánh giá mức độ cải thiện là “cải thiện nhiều”.

Trên thực tế, mặc dù hiện mới chỉ có một số nhà băng công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm, song chừng đó cũng đã đủ chứng minh cho nhận định trên khi mà hầu hết trong số đó đều ghi nhận lợi nhuận tiếp tục tăng trưởng cho dù tốc độ có chậm hơn so với năm trước. Đáng chú ý, thu từ dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của các nhà băng.

Đơn cử như Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB), lãi thuần từ hoạt động dịch vụ của nhà băng này đã tăng tới 142,6% so với cùng kỳ năm 2018, từ 315 tỷ đồng lên hơn 764 tỷ đồng. Qua đó, nâng tỷ trọng lãi từ dịch vụ trong tổng thu nhập hoạt động của nhà băng này từ mức 11,7% trong 6 tháng đầu năm 2018 lên 20%. Trong khi thu nhập lãi thuần, dù vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của VIB, song đã giảm từ mức 83,5% xuống còn 79%.

Hay như TPBank, kết thúc tháng 6/2019, ngân hàng này đã hoàn thành 50,6% kế hoạch lợi nhuận năm với tổng lợi nhuận trước thuế là 1.620 tỷ đồng. Có được kết quả này một phần cũng nhờ thu nhập từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng này tăng rất mạnh, đạt 605 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ 2018...

Những kết quả kinh doanh khả quan trong 6 tháng đầu năm là điểm tựa vững chắc giúp các nhà băng tự tin hơn với kế hoạch kinh doanh những tháng cuối năm. Thế nhưng yếu tố “thiên thời” chính là việc nền kinh tế vẫn đang cho thấy đà tăng trưởng vững chắc, kinh tế vì mô được duy trì ổn định.

Theo dự báo mới đây của nhiều tổ chức, tăng trưởng kinh tế hoàn toàn có thể mục tiêu đã đề ra, thậm chí có thể còn cao hơn. Đơn cử như Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đã nâng dự báo tăng trưởng kinh tế cả năm 2019 của Việt Nam lên 6,96%, cao hơn so với dự báo mà tổ chức này đưa ra ngày 29/5 là 6,56% - 6,81%. Hay như Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF) cũng dự báo tăng trưởng năm 2019 có thể đạt 6,86%, cũng vượt mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 là 6,6% – 6,8%.

Dự báo kém lạc quan nhất là của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), song theo CIEM tăng trưởng kinh tế năm 2019 của Việt Nam cũng có thể đạt mức 6,82%.

Trong khi đó, cơ hội mở ra từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam vừa ký kết như CPTPP hay EVFTA là rất lớn. Không chỉ xuất khẩu được kỳ vọng sẽ có bước bứt phá mới mà sự chuyển dịch của dòng FDI vào Việt Nam nhằm tận dụng cơ hội từ CPTPP, EVFTA và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung cũng sẽ tạo nhiều cơ hội cho tăng trưởng của Việt Nam.

Lẽ đương nhiên, khi các hoạt động kinh tế - thương mại - đầu tư diễn ra sôi động cũng sẽ là cơ hội cho các ngân hàng mở rộng hoạt động. Đó chính là lý do có tới 64-71% TCTD kỳ vọng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng (như vay vốn, gửi tiền, thanh toán và thẻ) sẽ gia tăng trong quý III/2019 và cả năm 2019 so với năm 2018.

Đáng chú ý, mặc dù nhu cầu sử dụng sản phẩm và dịch vụ tăng, song có tới 81,6% TCTD nhận định mặt bằng giá sẽ giữ ổn định và 6,3% TCTD dự kiến điều chỉnh giảm nhẹ. Tính chung cả năm 2019, 64,2% TCTD kỳ vọng giá bình quân các sản phẩm dịch vụ ngân hàng sẽ được giữ ổn định so với năm trước; 6,3% TCTD kỳ vọng “giảm”.

Tuy nhiên, cơ hội cũng luôn song hành cùng thách thức. Không chỉ nền kinh tế mà hệ thống ngân hàng cũng đang phải đối diện với nhiều rủi ro tiềm ẩn từ kinh tế thế giới, như: rủi ro suy thoái của kinh tế thế giới; căng thẳng thương mại ở khu vực chưa hạ nhiệt; sự đảo chiều chính sách của các NHTW lớn có thể khiến thị trường tài chính biến động… Đó là điều cần phải hết sức lưu ý.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700