12:20 | 20/05/2019

Hoạt động ngân hàng chuyển biến tích cực

Sáng nay, Quốc hội đã họp tại Hội trường nghe Chính phủ đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 và tình hình triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019. Đáng chú ý là hoạt động ngân hàng được Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình báo cáo trước Quốc hội với nhiều dữ liệu cho thấy có sự chuyển biến rất tích cực.

Quốc hội xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng
Sáng nay khai mạc kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu khai mạc Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV, sáng 20/5

Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng đạt hiệu quả

Theo đó, cơ cấu lại các tổ chức tín dụng tiếp tục được triển khai tích cực và đạt hiệu quả. Từ năm 2016, tăng trưởng tín dụng giảm dần nhưng tăng trưởng kinh tế được cải thiện vững chắc, cho thấy tín dụng được sử dụng hiệu quả và được phân bổ phù hợp hơn.

Cơ cấu tín dụng đã tập trung vào lĩnh vực đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế; tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên có tốc độ tăng trưởng khá; tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro có xu hướng chậm lại.

Công tác cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng tiếp tục được triển khai tích cực, đồng bộ, toàn diện, trọng tâm vào thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội, Quyết định số 1058/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Luật sửa đối, bổ sung một sổ điều của Luật các tổ chức tín dụng, kiểm soát, xử lý và duy trì nợ xấu ở mức dưới 3%.

Tình trạng sở hữu chéo, đầu tư chéo trong hệ thống tổ chức tín dụng xử lý được một bước; tập trung xử lý dứt điểm các tổ chức tín dụng yếu kém theo nguyên tắc thị trường.

12/12 chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu trong năm 2018

Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình cho biết, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 đạt kết quả toàn diện, hoàn thành toàn bộ 12/12 chỉ tiêu Quốc hội giao, khẳng định vai trò là năm bản lề trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020.

Phó Thủ tướng cho biết, có 3 chỉ tiêu đạt và 9 chỉ tiêu vượt mục tiêu kế hoạch, tăng thêm 1 chỉ tiêu vượt kế hoạch so với số đã báo cáo Quốc hội, đó là chỉ tiêu Tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 7,08% (số đã báo cáo Quốc hội là 6,7%).

Một số chỉ tiêu thực hiện tốt hơn so với số ước đã báo cáo Quốc hội, như: Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 13,2% (số đã báo cáo Quốc hội là tăng 11,2%); Xuất siêu 2,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (số đã báo cáo Quốc hội là xuất siêu 0,4%); Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân là 3,54% (số đã báo cáo Quốc hội là dưới 4%)…

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát. Các chỉ số tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng cơ bản diễn biến sát với định hướng đề ra. Thanh khoản thị trường ngoại tệ tốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; hệ thống tổ chức tín dụng mua ròng ngoại tệ từ khách hàng, tiếp tục mua ngoại tệ bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối. Mặt bằng lãi suất, tỷ giá cơ bản ổn định trong điều kiện lãi suất trên thế giới gia tăng và nhiều đồng tiền trên thế giới mất giá mạnh so với đồng USD.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình báo cáo trước Quốc hội

Tiếp tục nỗ lực để đạt mục tiêu kế hoạch 2019

Về tình hình kinh tế năm 2019, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình cho, biết tình hình kinh tế thế giới nhìn chung tích cực, tuy nhiên tiềm ẩn nhiều rủi ro thách thức. Kết quả thực hiện 4 tháng đầu năm nhìn chung vẫn giữ được xu thế tích cực từ cuối năm 2018. Tốc độ tăng GDP đạt khá, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát. Cơ cấu nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực.

Các chỉ số tài chính, tiền tệ, lãi suất nhìn chung ổn định; thị trường ngoại hối diễn biến tích cực, cung cầu ngoại tệ trong nước thuận lợi, thanh khoản tốt, dự trữ ngoại hối tiếp tục được nâng lên.

Tính đến ngày 17/4/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,29% so với cuối năm 2018 (cùng kỳ tăng 4,73%), huy động vốn tăng 2,69% (cùng kỳ tăng 3,69%); tín dụng đối với nền kinh tế tăng 3,23% (cùng kỳ tăng 3,74%); mặt bằng lãi suất duy trì ổn định. Tỷ giá và thị trường ngoại tệ tương đối ổn định. Thanh khoản thị trường diễn ra bình thường, hệ thống tổ chức tín dụng tiếp tục mua ròng ngoại tệ từ khách hàng.

Thị trường chứng khoán tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tốt trong 4 tháng đầu năm 2018, tạo điều kiện thuận lợi cho Chính phủ, các doanh nghiệp phát hành trái phiếu, cổ phiếu, huy động vốn cho ngân sách và cho đầu tư phát triển. Tính đến ngày 25/4/2019, quy mô vốn hóa của thị trường chứng khoán đạt khoảng 77,6% GDP, tăng 8,4% so cuối năm 2018.

Cùng với đó, thu, chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng yêu cầu; đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khá. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, doanh nghiệp thành lập mới tăng cao. Cán cân thương mại hàng hóa duy trì xuất siêu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 81% so với cùng kỳ năm 2018. Thị trường trong nước nhìn chung ổn định, cung cầu hàng hóa được bảo đảm...

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cho rằng, bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế nước ta vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế cũng như tiếp tục đối mặt với những thách thức mới, nhất là thiên tai, dịch bệnh diễn biến hết sức phức tạp, có khả năng ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh những tháng tiếp theo và khả năng thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2019, đòi hỏi được nghiên cứu, đánh giá thận trọng để chuẩn bị các phương án và giải pháp phù hợp để đạt được mục tiêu đề ra.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.650
41.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.650
41.950
Vàng SJC 5c
41.650
41.970
Vàng nhẫn 9999
41.630
42.080
Vàng nữ trang 9999
41.150
41.950