07:18 | 23/08/2019

Đảo chiều thương mại, Việt Nam nhập siêu từ Australia

Thông tin mới nhất từ Tổng cục Hải quan cho thấy, tính đến tháng 7/2019, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Australia đạt 1,934 tỷ USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu lên tới 2,61 tỷ USD. Như vậy, đến hết tháng 7, Việt Nam nhập siêu gần 700 triệu USD từ Australia.

So với cùng kỳ 2018, cán cân thương mại giữa Việt Nam và Australia đang có sụ đảo chiều, khi nước ta chuyển từ trạng thái xuất siêu sang nhập siêu.

Kết thúc tháng 7 năm ngoái, Việt Nam xuất khẩu sang Australia lượng hàng hóa trị giá 2,307 tỷ USD và nhập khẩu 1,977 tỷ USD. Do đó, cán cân thương mại của năm ngoái nghiêng về Việt Nam với con số xuất siêu 330 triệu USD.

Theo Tổng cục Hải quan, các nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang Australia những tháng đầu năm 2019 có thể kể đến như: điện thoại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; giày dép; dệt may; thủy sản… với kim ngạch đạt từ 100 triệu USD/nhóm hàng trở lên.

Điện thoại và linh kiện là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Australia

Tuy nhiên, một số nhóm hàng chủ lực bị sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái: điện thoại và linh kiện đạt 419 triệu USD, giảm gần 80 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 131,5 triệu USD, giảm khoảng 70 triệu USD…

Đáng chú ý, dầu thô xuất khẩu của Việt Nam sang Australia chỉ đạt kim ngạch gần 60 triệu USD, giảm tới gần 200 triệu USD so với cùng kỳ 2018.

Trong khi đó, hàng hóa nhập khẩu từ Australia tăng mạnh chủ yếu từ kim ngạch nhập khẩu than. Cụ thể, hết tháng 7, cả nước nhập khẩu hơn 8,5 triệu tấn than từ Australia, với trị giá kim ngạch hơn 937 triệu USD. Đây là nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất chiếm đến gần 36% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước từ Australia trong 7 tháng đầu năm.

Ngoài ra, hết tháng 7 còn 4 nhóm hàng nhập từ Australia đạt kim ngạch từ 100 triệu USD trở lên gồm: Quặng và khoáng sản (328,6 triệu USD); kim loại thường (280 triệu USD); lúa mì (157 triệu USD) và phế liệu sắt thép (117 triệu USD).

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850