Chỉ số kinh tế:
Ngày 30/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.627 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.399/26.861 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Doanh nghiệp còng lưng “cõng” phụ phí

Tuyết Thanh
Tuyết Thanh  - 
Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (CIEM), hiện có hai loại chi phí liên quan trực tiếp đến chi phí cấu thành trong hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu (XNK) của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam. 
aa

Khoản thứ nhất là thu theo quy định đến từ các cơ quan quản lý nhà nước như thuế, hải quan, cơ quan kiểm tra chất lượng, kiểm dịch... Khoản thứ hai là từ những đơn vị cung cấp dịch vụ như các hãng tàu, bến cảng, vận tải, bốc xếp...

Doanh nghiệp còng lưng “cõng” phụ phí
Cả hai khoản phí chính thức và không chính thức đều đang góp phần làm suy yếu DN

Mặc dù, những khoản chi phí sử dụng dịch vụ đối với các DN XNK là lớn nhưng có thể tính toán được do nhà cung cấp dịch vụ bao giờ cũng có biểu giá rõ ràng và ký kết với nhau theo các điều khoản trong hợp đồng.

Còn với loại chi phí đầu tiên đã nêu, trừ các khoản thu được quy định rõ về mức thuế phí do nhà nước ban hành, bên cạnh đó còn có những khoản thu DN rất khó định đoán được trước để đưa vào chi phí giá thành.

Tuy nhiên, theo chia sẻ của nhiều DN hoạt động trong lĩnh vực XNK, đây là những khoản chi phí “không nhỏ” đang trực tiếp làm gia tăng gánh nặng cho các DN

Bàn về vấn đề này trong chương trình tập huấn về cải thiện môi trường kinh doanh diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh mới đây, một số chuyên gia thuộc Dự án USAID GIG đưa ra nhận định, rõ ràng nếu đem so sánh chi phí, thời gian thông quan hàng hóa (theo quy định đã ban hành) với một số nước trong khu vực thì Việt Nam nằm ở trong nhóm nước có chi phí thuộc hàng trung bình, thậm chí là thấp.

Cụ thể, theo báo cáo của WB (2015) chi phí xuất khẩu tại Việt Nam là 610 USD/container, chi phí nhập khẩu thấp hơn với 600 USD/container. Trong khi đó, ở một số nước lân cận như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippin con số này thường vào khoảng 700 – 900 USD/container hàng XNK, thậm chí tại Lào, chi phí này còn tăng cao gấp 3 lần và vào khoảng hơn 1.900 USD/container.

Tuy nhiên, đó chỉ là “bề nổi” và là những gì có thể tính toán được theo biểu phí quy định niêm yết công khai, còn những phụ phí khác tưởng chừng nhỏ nhưng dường như lại là... chính!

Ông Phạm Thanh Bình, Nguyên Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan (Tổng cục Hải quan) cho biết, đối với một lô hàng XNK hiện nay, DN Việt Nam phải chịu đến 25 các loại phụ phí khác nhau, trong đó có nhiều khoản thu nằm ngoài chứng từ không kiểm soát được. Có thể đưa ra dẫn chứng, nhiều khoản thu hải quan quy định rất thấp khoảng vài chục nghìn đồng, chỉ tương đương 1 – 2 USD mà DN XNK phải nộp.

Nhưng thực tế có những lô hàng DN phải chịu đóng số tiền gấp đến... vài trăm lần do “cõng” thêm nhiều khoản phí liên quan khác như phí VSATTP, phí vệ sinh, kiểm dịch.... Cụ thể, việc kiểm dịch thực vật đối với dăm gỗ xuất khẩu đã khiến những lô hàng này khi xuất đi có mức phí lên đến 40 - 50 triệu đồng/công hàng 40.000 tấn.

Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu đang được nhà nước khuyến khích và một số nước nhập khẩu đồ gỗ như Nhật Bản không yêu cầu kiểm dịch dăm gỗ thì phía Việt Nam lại làm điều này. Như vậy, không khác gì gây khó khăn và gia tăng gánh nặng rất lớn cho DN.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan khoảng 34% lô hàng xuất khẩu hiện đang phải chịu sự kiểm tra chuyên ngành, tỷ lệ này đối với mặt hàng nhập khẩu thậm chí còn cao hơn 40 - 50%, nên làm gia tăng thời gian, chi phí đối với các DN là không tránh khỏi.

Chính vì vậy, theo ông Phạm Thanh Bình, biện pháp tốt nhất nhằm giảm thiểu chi phí “mềm” cho DN, ngoài việc cải cách, giảm thiểu tối đa các thủ tục hành chính, quản lý chuyên ngành hiệu quả, hiện đại hóa quy trình thông quan, tránh tiếp xúc trực tiếp khi làm thủ tục thông quan.... thay vì giảm 10% thuế cho DN nếu giảm được 10% về thủ tục hành chính thì DN đã tiết giảm được rất nhiều chi phí phát sinh liên quan.

Bên cạnh đó, một số chuyên gia cũng thẳng thắn chỉ ra rằng, hiện nay các DN XNK trong nước phụ thuộc khá nhiều vào các hãng tàu, công ty cung cấp dịch vụ của nước ngoài. Trong khi, các hãng tàu này bao quát phần lớn thị trường và thường đưa ra mức giá cao, nhưng các DN vẫn đang phải chấp nhận mức phí này do khó có sự lựa chọn khác.

Điều đáng nói, quy định luật pháp về phí và lệ phí đã có, nhưng đến nay việc can thiệp của cơ quan quản lý từ trung ương và tại địa phương về vấn đề này vẫn chưa thực sự tạo ra một một mối quan hệ bình đẳng và sòng phẳng, giúp các DN XNK tiết giảm được chi phí sử dụng dịch vụ cung ứng nhằm cân đối giá thành trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy, cả hai khoản phí chính thức và không chính thức đều đang góp phần làm suy yếu DN.

Trước thực tế này, TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM cho rằng, điều kiện kinh doanh không phù hợp, môi trường thiếu minh bạch sẽ làm gia tăng gánh nặng chi phí cho DN. Điều này khiến DN không thể lớn lên và không thể cạnh tranh với DN các nước. Và hệ quả cũng sẽ kéo giảm năng lực cạnh tranh, môi trường kinh doanh của một quốc gia suy giảm trên trường quốc tế, nhất là trong điều kiện hội nhập hiện nay.

Tuyết Thanh

Tin liên quan

Tin khác

Quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 372/2026/NĐ-CP ngày 29/9/2026 quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Gỡ điểm nghẽn để thương mại hóa đổi mới sáng tạo

Gỡ điểm nghẽn để thương mại hóa đổi mới sáng tạo

Việt Nam đang có nhiều nền tảng thuận lợi để thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, từ mạng lưới hội nhập sâu rộng, nguồn nhân lực STEM đến những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và khởi nghiệp. Tuy nhiên, từ một ý tưởng hay, một công nghệ tiềm năng đến sản phẩm được thị trường chấp nhận vẫn là hành trình nhiều điểm nghẽn. Bài toán đặt ra không chỉ là tạo thêm sáng kiến, mà phải đưa được kết quả nghiên cứu vào sản xuất, thu hút dòng vốn và hình thành những sản phẩm có khách hàng, doanh thu và khả năng mở rộng thị trường.
Tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên hải quan

Tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên hải quan

Chương trình doanh nghiệp ưu tiên (DNƯT) ngày càng khẳng định vị thế là bước cải cách mang tính đột phá, thay đổi căn bản phương thức quản lý hải quan từ truyền thống sang hiện đại. Nhờ đó, cộng đồng DNƯT tại Việt Nam lớn mạnh vượt bậc, đóng góp phần lớn vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, trở thành những "mắt xích" vững chắc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Biến dữ liệu thành năng lực cạnh tranh

Biến dữ liệu thành năng lực cạnh tranh

Trong kỷ nguyên số, lợi thế của một nền kinh tế không còn chỉ được quyết định bởi tài nguyên, lao động giá rẻ hay quy mô thị trường. Một nguồn lực mới đang ngày càng giữ vai trò trung tâm đó là dữ liệu và khả năng biến dữ liệu thành giá trị.
Doanh nghiệp ngừng hoạt động, hồ sơ giải thể vẫn ‘treo’

Doanh nghiệp ngừng hoạt động, hồ sơ giải thể vẫn ‘treo’

Ngừng kinh doanh nhiều năm, một số doanh nghiệp vẫn chưa thể hoàn tất giải thể. Nghĩa vụ thuế, nợ và thủ tục pháp lý khiến hồ sơ còn “treo”.
Thúc đẩy doanh nghiệp trưởng thành để góp sức cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Thúc đẩy doanh nghiệp trưởng thành để góp sức cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết dự thảo được xây dựng theo hướng tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển cả về quy mô và chất lượng nhưng phải hài hòa với khả năng ngân sách. Từ tiêu chí xác định DNNVV đến ưu đãi thuế, mặt bằng và cơ chế voucher, Bộ trưởng làm rõ cách tiếp cận của cơ quan soạn thảo với mục tiêu thúc đẩy DNNVV trưởng thành, đóng góp cho tăng trưởng hai con số.
Cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp phải bảo đảm nguyên tắc thị trường

Cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp phải bảo đảm nguyên tắc thị trường

Đánh giá cao cơ quan soạn thảo dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), đại biểu Quốc hội Lê Thanh Hoàn (Đoàn Thanh Hóa) đề nghị tiếp tục rà soát các cơ chế hỗ trợ để vừa bảo đảm nguyên tắc thị trường, tuân thủ các cam kết quốc tế, vừa nâng cao hiệu quả thực thi.
Ưu đãi phải đến đúng lúc doanh nghiệp cần

Ưu đãi phải đến đúng lúc doanh nghiệp cần

Đồng tình với việc sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng xây dựng Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hội nghị Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách sáng nay (28/9), đại biểu Quốc hội Trần Văn Lâm (Đoàn Bắc Ninh) cho rằng chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có thể thụ hưởng trong thực tế. Từ chính sách miễn thuế, lựa chọn phương pháp tính thuế đến hỗ trợ mặt bằng sản xuất, đại biểu đề nghị thiết kế đồng bộ, sát đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là trong giai đoạn khởi sự và từng bước mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Làm sao để thương hiệu Việt không ở lại phía sau?

Làm sao để thương hiệu Việt không ở lại phía sau?

Những gói cà phê ghi rõ xuất xứ, mang thương hiệu Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện trên kệ một số cửa hàng Starbucks tại New York (Mỹ). Trong khi đó, có sản phẩm được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam nhưng đến tay người tiêu dùng lại mang thương hiệu nước ngoài. Hai hình ảnh này cho thấy bài toán của doanh nghiệp Việt không chỉ là đưa hàng vào Mỹ, mà còn là từng bước giữ lại tên tuổi, vị thế và giá trị trong chuỗi cung ứng.
Hai "vũ khí" đưa thương hiệu Việt thoát bóng gia công, chinh phục thị trường quốc tế

Hai "vũ khí" đưa thương hiệu Việt thoát bóng gia công, chinh phục thị trường quốc tế

Muốn thoát khỏi vị thế gia công, doanh nghiệp Việt phải bảo vệ thương hiệu, khai thác bản sắc văn hóa và đáp ứng tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế.