09:33 | 10/05/2017

Khi thị trường chứng khoán được nâng hạng

Sẽ có nhiều quỹ, nhiều nhà đầu tư khác quan tâm đến Việt Nam khi thị trường chứng khoán được nâng hạng do khi đó độ mở, khả năng đầu tư và tính công khai minh bạch của Việt Nam đã lên một tầm cao mới. Đây mới là yếu tố hấp dẫn mang tính dài hạn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Sóng đầu tư nước ngoài lại nổi
Dòng tiền chạy theo
Sức ép lên thị trường vốn

Một vấn đề rất được giới chuyên gia kinh tế quan tâm đó là bao nhiêu tiền sẽ đổ vào Việt Nam khi thị trường chứng khoán (TTCK) được nâng hạng. Nếu đó là con số nhỏ, việc nâng hạng có lẽ không thực sự cấp bách. Nhưng nếu đó là con số lớn, thậm chí rất lớn, việc nâng hạng cần phải đặc biệt ưu tiên.

Theo thống kê của EPFR Global, hiện tại có 491 quỹ đầu tư trên toàn cầu đang sử dung MSCI Emerging Markets Index làm chỉ số tham chiếu (benchmark) với tổng tài sản là 435 tỷ USD, trong đó ETF là 22 quỹ với 44 tỷ USD và quỹ tương hỗ (mutual fund) là 469 quỹ với 391 tỷ USD.

Giống như các ETF đầu tư vào Việt Nam như db x-trackers FTSE VIETNAM UCITS ETF hay VanEck Vectors Vietnam ETF, khi chỉ số tham chiếu của các quỹ thay đổi, các quỹ sẽ phải cơ cấu lại danh mục để sao cho giống với chỉ số đó nhất. Nếu được MSCI nâng hạng lên thị trường mới nổi (Emerging Markets - EM), các cổ phiếu đủ điều kiện của Việt Nam đương nhiên sẽ được bổ sung vào trong chỉ số MSCI Emerging Markets Index và vì vậy các quỹ đang sử dụng chỉ số này làm tham chiếu sẽ tự động mua các cổ phiếu của Việt Nam. Tuy nhiên, tổng giá trị mua phụ thuộc vào tỷ trọng của Việt Nam trong chỉ số.

Dòng tiền đổ vào Việt Nam khi được nâng hạng không chỉ đến từ những quỹ đầu tư theo chỉ số

MSCI Emerging Markets Index hiện bao gồm hơn 800 cổ phiếu thuộc 24 quốc gia và vùng lãnh thổ (tính cả Pakistan). Nước có tỷ trọng lớn nhất là Trung Quốc, 26,92%, tiếp theo là Hàn Quốc, Đài Loan, 14,75% và 12,1%. Pakistan có tỷ trọng thấp đứng thứ 2 từ dưới lên là 0,17%. Tỷ trọng của từng nước trong chỉ số không hoàn toàn phụ thuộc vào tổng vốn hóa của TTCK nước đó mà phụ thuộc nhiều hơn vào những cổ phiếu lớn, đủ điều kiện để vào chỉ số.

Theo đại diện SSI, nếu so sánh với Pakistan, tổng vốn hóa thị trường và các cổ phiếu lớn của Việt Nam có phần nhỉnh hơn. Cụ thể tổng vốn hóa của TTCK Việt Nam là 101 tỷ USD, cao hơn của Pakistan là 94 tỷ USD. Cổ phiếu lớn nhất của Pakistan là Oil & Gas Development Company có vốn hóa 6,5 tỷ USD, thấp hơn nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn nhất Việt Nam là Vinamilk, 9,2 tỷ USD. Nếu so sánh với Peru, tổng vốn hóa thị trường của Việt Nam và Pakistan đều lớn hơn, tuy nhiên tỷ trọng của Peru lại lên tới 0,35%, cao gấp đôi Pakistan do Peru có một số công ty lớn với tỷ lệ tự do chuyển nhượng cao.

“Ước tính một cách thận trọng, chúng tôi giả định Việt Nam có tỷ trọng 0,2% trong chỉ số MSCI Emerging Markets Index. Với tỷ trọng này, tổng lượng tiền mà các quỹ đang sử dụng MSCI Emerging Markets Index làm tham chiếu phải mua các cổ phiếu đủ điều kiện của Việt Nam là 871 triệu USD”, chuyên gia phân tích SSI Nguyễn Đức Hùng Linh cho biết.

Tuy nhiên, theo tính toán của các chuyên gia SSI, có một số điểm cần lưu ý là chỉ số MSCI Emerging Markets Index chỉ là một trong nhiều chỉ số liên quan đến Emerging Markets của MSCI. MSCI còn có các chỉ số khác như MSCI Emerging Markets IMI, MSCI Emerging Markets Large Cap, Mid Cap, Small Cap...

Tương ứng với mỗi chỉ số lại có một số quỹ sử dụng làm tham chiếu. Ví dụ chỉ số MSCI Emerging Markets SmallCap đang có 24 quỹ làm tham chiếu trong đó có 3 ETF và 21 quỹ tương hỗ với tổng tài sản là 4,8 tỷ USD. Theo thống kê của MSCI, hiện có tới 1,6 nghìn tỷ USD tài sản đang sử dụng các bộ chỉ số liên quan đến Emerging Market của MSCI. Điều này có nghĩa lượng tiền thực tế từ các quỹ sử dụng chỉ số của MSCI sẽ lớn hơn nhiều con số 871 triệu USD.

Ngoài nhân tố khách quan là quy mô tài sản của các quỹ, còn một nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến lượng tiền đổ vào Việt Nam đó là vốn hóa và đặc biệt là tỷ lệ tự do chuyển nhượng trong các công ty vốn hóa lớn, yếu tố quyết định tỷ trọng của cổ phiếu trong chỉ số. Điều này có nghĩa Việt Nam có thể nâng được tỷ trọng, tăng dòng tiền vào Việt Nam nếu có chiến lược sớm về thoái vốn, tăng tỷ lệ tự do chuyển nhượng bên cạnh việc thúc đẩy các công ty lớn lên sàn.

Một số chuyên gia thì cho rằng, dòng tiền đổ vào Việt Nam khi được nâng hạng đương nhiên sẽ không chỉ đến từ những quỹ đầu tư theo chỉ số. Sẽ có nhiều quỹ, nhiều nhà đầu tư khác quan tâm đến Việt Nam khi TTCK được nâng hạng do khi đó độ mở, khả năng đầu tư và tính công khai minh bạch của Việt Nam đã lên một tầm cao mới. Đây mới là yếu tố hấp dẫn mang tính dài hạn của TTCK Việt Nam.

“Con số 871 triệu USD từ các quỹ chuyên dùng MSCI EM Index làm tham chiếu chỉ là một phần nhỏ của dòng vốn nước ngoài sẽ đổ vào Việt Nam khi được nâng hạng. Một số tiền lớn đổ vào trong một thời gian ngắn, tập trung chủ yếu vào các cổ phiếu vốn hóa lớn nhất, có tác động nhiều nhất đến chỉ số chắc chắn sẽ là động lực mạnh cho tăng trưởng của TTCK”, một chuyên gia nhận định.

Nhìn lại trường hợp của Pakistan, các chuyên gia cho biết, thị trường nước này được MSCI nâng hạng lên EM trong kỳ xét duyệt tháng 6/2016. Điều này có nghĩa trong kỳ tái cơ cấu danh mục tháng 5/2017, hoạt động đảo danh mục mới chính thức diễn ra.

Tuy nhiên ngay từ tháng 6/2016 khi Pakistan được công bố nâng hạng, dòng vốn vào nước này đã có sự cải thiện rõ rệt. Rõ nhất là vào đầu năm 2017, dòng vốn vào Pakistan tăng gần gấp đôi so với quãng thời gian tháng 6 - 7/2016. Khi chính thức được vào chỉ số, dòng vốn vào Pakistan sẽ còn tiếp tục gia tăng. Với tỷ trọng 0,17% trong MSCI EM Index, Pakistan sẽ nhận được ít nhất 740 triệu USD phân bổ tài sản từ các quỹ sử dụng MSCI EM Index làm tham chiếu. Số tiền này nhiều khả năng sẽ được giải ngân trong vòng 4 tháng từ tháng 5 đến tháng 8/2017.

Còn một thời gian dài để Việt Nam chuẩn bị cho việc nâng hạng, trong thời gian này số lượng công ty lớn lên niêm yết sẽ còn tăng. So với Pakistan, hiện tại Việt Nam đã vượt về quy mô cũng như số lượng công ty niêm yết. Ở thời điểm nâng hạng trong tương lai, số lượng cổ phiếu Việt Nam thỏa mãn điều kiện của MSCI có thể còn cao hơn Pakistan. Điều này rất quan trọng để tăng tỷ trọng của Việt Nam, trực tiếp tác động đến dòng vốn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.740 22.810 26.464 26.781 30.080 30.562 204,66 208,58
BIDV 22.740 22.810 26.467 26.774 30.099 30.550 205,36 208,39
VietinBank 22.736 22.816 26.419 26.797 30.051 30.611 205,31 208,71
Agribank 22.730 22.810 26.648 26.969 30.281 30.704 202,97 206,12
Eximbank 22.720 22.810 26.438 26.782 30.174 30.568 206,32 209,01
ACB 22.750 22.820 26.448 26.780 30.278 30.581 206,61 209,20
Sacombank 22.748 22.830 26.518 26.873 30.286 30.648 206,16 209,23
Techcombank 22.720 22.820 26.198 26.913 29.857 30.696 204,94 210,41
LienVietPostBank 22.720 22.810 26.574 27.027 30.396 30.648 203,44 207,08
DongA Bank 22.740 22.810 26.490 26.790 30.210 30.600 204,60 208,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.700
Vàng SJC 5c
36.500
36.720
Vàng nhẫn 9999
35.950
36.350
Vàng nữ trang 9999
35.600
36.300