16:15 | 01/06/2018

Khuyến khích dòng vốn chuyên nghiệp, trung và dài hạn

UBCKNN sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến dòng vốn ngoại trên TTCK, có giải pháp tiếp tục khuyến khích dòng vốn chuyên nghiệp, vốn trung và dài hạn, hạn chế dòng vốn ngắn hạn.

Nếu thị trường phục hồi, cổ phiếu nào sẽ dẫn dắt
Làm gì khi thị trường giảm

Trước những diễn biến TTCK giảm sâu trong thời gian vừa qua, Chủ tịch UBCKNN Trần Văn Dũng cho biết, đơn vị này sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến dòng vốn ngoại trên TTCK, có giải pháp tiếp tục khuyến khích dòng vốn chuyên nghiệp, vốn trung và dài hạn, hạn chế dòng vốn ngắn hạn. Đồng thời sẽ giám sát chặt chẽ các mặt hoạt động của TTCK nói chung, để quản lý thị trường hoạt động minh bạch, hiệu quả hơn.

Nguyên nhân hiện tượng giảm điểm do NĐTNN liên tục xả hàng khi VN-Index đạt đỉnh 1.204 điểm

Sau khi tăng mạnh trong quý I/2018, đạt mức cao nhất 1.204 điểm (9/4/2018), TTCK bắt đầu xu hướng điều chỉnh giảm, từ giữa tháng 5 đến nay thị trường có xu hướng điều chỉnh giảm mạnh hơn. VN-Index đã giảm gần 20% về 963,9 điểm (tại ngày 25/5) và tiếp tục giảm 24 điểm vào sáng 28/5 dù phiên giao dịch ngày 31/5 VN-Index có tăng 22,75 điểm lên 971.25 điểm.

Nhiều ý kiến cho rằng, nguyên nhân hiện tượng giảm điểm do NĐTNN liên tục xả hàng khi VN-Index đạt đỉnh 1.204 điểm, điều này khiến tâm lý NĐT trên thị trường e ngại quá mức về triển vọng thị trường và bị cuốn theo xu hướng bán ra. Tuy nhiên, theo UBCKNN, TTCK Việt Nam vẫn hứa hẹn nhiều tiềm năng tăng trưởng.

Theo UBCKNN, trong tháng 5/2018, NĐTNN bán ròng mạnh trong một số phiên như các phiên 21/5 (436 tỷ đồng), 22/5 (596 tỷ đồng), 25/5 (508 tỷ đồng). Tính đến ngày 25/5, giá trị bán ròng của NĐTNN đạt 5.332 tỷ đồng trên cả hai sàn.

Tuy nhiên, theo người đứng đầu UBCKNN cho biết, dòng vốn nước ngoài vẫn tiếp tục vào ròng ở mức độ tương đối cao, đạt 615 triệu USD trong tháng 4 và 809 triệu USD trong tháng 5/2018. Giá trị vốn ngoại chảy vào ròng lũy kế từ đầu năm đến ngày 22/5/2018 đạt gần 2,35 tỷ USD (bằng 80% mức vào ròng của cả năm 2017) và cao hơn nhiều so với mức vào ròng năm 2016 (1,28 tỷ USD). Diễn biến này cho thấy NĐTNN vẫn đánh giá cao khả năng tăng trưởng trong ngắn hạn của thị trường Việt Nam và sẵn sàng giải ngân ở thời điểm phù hợp.

Trên TTCK phái sinh, UBCKNN cho biết, gần đây, Hợp đồng tương lai chỉ số VN30 đáo hạn tháng 6 và 7 được giao dịch quanh mức chỉ số VN30 trên thị trường cơ sở. Điều này cho thấy NĐT chưa có đánh giá rõ ràng về diễn biến chỉ số VN30 trong ngắn hạn.

Cũng theo UBCKNN, dư nợ giao dịch ký quỹ vẫn tăng từ đầu năm, nhưng từ cuối tháng 4 bắt đầu có xu hướng giảm và vẫn trong tầm kiểm soát. Tại ngày 18/5/2018 dư nợ giao dịch ký quỹ là 42.988 tỷ đồng, giảm 11,5% so với ngày 20/4/2018 nhưng vẫn tăng 11,4% so với cuối năm 2017. Trong khi dòng tiền tài trợ từ hệ thống ngân hàng cho hoạt động chứng khoán có xu hướng giảm từ cuối tháng 4/2018. Tại ngày 18/5/2018 tổng giá trị tài trợ từ ngân hàng là 68.821 tỷ đồng, giảm 4,7% so với ngày 20/4/2018.

Về tình hình huy động vốn qua TTCK, UBCKNN cho biết, đến hết tháng 4/2018, huy động qua phát hành chứng khoán trên thị trường ước đạt 6.000 tỷ đồng, hoạt động đấu giá cổ phần hóa qua 2 Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK) đạt hơn 26,2 nghìn tỷ đồng với nhiều đợt đấu giá lớn (tính đến ngày 15/5).

Nhận định nguyên nhân thị trường giảm điểm, UBCKNN cho biết, thông tin Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ tăng lãi suất trong tháng 6 và khả năng NHTW châu Âu cũng tăng lãi suất sớm hơn dự kiến đã đẩy lợi tức trái phiếu của Mỹ tăng lên mức cao nhất 5 năm, chạm ngưỡng 3,06% vào ngày 22/5/2018. Chính vì thế, NĐTNN bắt đầu có xu hướng rút tiền khỏi các thị trường mới nổi. Trong tháng 5 (tính đến ngày 18/5): Malaysia (- 625 triệu USD), Hàn Quốc (-853 triệu USD), Thái Lan (-703,4 triệu USD), Indonesia (-550 triệu USD), Phillipines (-105 triệu USD), Ấn Độ (-583 triệu USD), Đài Loan (-392 triệu USD). Ngay lập tức, TTCK thế giới từ Mỹ, châu Âu, châu Á đều đã điều chỉnh giảm từ tháng 1/2018, mức giảm phổ biến từ 7 - 10%.

Trong khi đó, TTCK Việt Nam đã tăng mạnh trong một thời gian dài. VN-Index năm 2017 tăng 48% và tăng tiếp 17% trong quý I/2018 nên nhiều nhà đầu tư có tâm lý chốt lời. Tâm lý đó diễn ra đúng vào thời điểm lãi suất trên thị trường quốc tế tăng, TTCK thế giới điều chỉnh giảm, nên tác động cộng hưởng càng lớn. Tuy nhiên, ở mặt bằng giá hiện tại, chỉ số P/E của TTCK Việt Nam khoảng 17 lần, là mức thấp so với nhiều TTCK quốc tế.

Đề cập đến các giải pháp phát triển TTCK Việt Nam thời gian tới, Chủ tịch UBCKNN cho biết, đơn vị này sẽ tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng Luật Chứng khoán (sửa đổi) theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, Chính phủ. Dự luật mới sẽ hướng tới việc giải quyết các vướng mắc hiện hành với Luật DN và Luật Đầu tư, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý trong việc quản lý, giám sát và xử lý vi phạm trên thị trường, nâng cao chất lượng quản trị DN, khơi thông cơ chế tái cấu trúc và xử lý CTCK hoạt động kém hiệu quả. Tăng cường bảo vệ NĐT, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng hàng hóa ra thị trường.

Bên cạnh đó, đơn vị này cũng sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến dòng vốn ngoại trên TTCK, có giải pháp tiếp tục khuyến khích dòng vốn chuyên nghiệp, vốn trung và dài hạn, hạn chế dòng vốn ngắn hạn. Giám sát chặt chẽ các mặt hoạt động của TTCK nói chung, để quản lý thị trường hoạt động minh bạch, hiệu quả.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.295 23.385 26.828 27.688 30.409 30.896 204,93 213,12
BIDV 23.300 23.380 26.817 27.138 30.514 30.986 205,84 209,29
VietinBank 23.297 23.387 26.750 27.128 30.381 30.941 205,35 208,75
Agribank 23.280 23.380 26.802 27.160 30.531 30.939 206,10 208,85
Eximbank 23.300 23.380 26.785 27.129 29.600 30.916 206,11 208,76
ACB 23.300 23.392 26.875 27.235 30.633 30.988 206,24 209,30
Sacombank 23.295 23.387 26.884 27.245 30.545 30.900 206,87 209,90
Techcombank 23.280 23.380 26.563 27.276 30.210 31.043 20476 210,00
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.772 27.239 30.500 30.922 206,55 210,27
DongA Bank 23.300 23.380 26.830 27.140 29.540 30.910 204,80 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.650
Vàng SJC 5c
36.510
36.670
Vàng nhẫn 9999
34.690
35.090
Vàng nữ trang 9999
34.240
35.040