08:57 | 11/10/2018

Nguy cơ khủng hoảng tài chính do căng thẳng thương mại

Trong Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu mới nhất vừa được công bố hôm 10/10, Quỹ Tiền tệ quốc tế cảnh báo, rủi ro đang tích tụ trong hệ thống tài chính toàn cầu và sự leo thang hơn nữa về căng thẳng thương mại có thể thúc đẩy tình thế trở nên khó lường. Thế nhưng điều đáng quan ngại là các nhà đầu tư dường như vẫn rất chủ quan.

IMF cảnh báo: Nguy cơ khủng hoảng tài chính thế giới
Thương mại toàn cầu đang gặp trở ngại

Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu của IMF được công bố hai lần trong một năm, bao gồm đánh giá của quỹ về điều kiện tài chính toàn cầu và nêu bật những rủi ro trong hệ thống.

Cuộc chiến thương mại Mỹ Trung leo thang đang là rủi ro lớn nhất với kinh tế toàn cầu

Theo báo cáo này, giá cổ phiếu - đặc biệt là ở Mỹ - đã đạt mức cao kỷ lục nhiều lần trong năm trước, đó là dấu hiệu cho thấy các nhà đầu tư đang rất liều lĩnh. Nhưng những bất ổn xung quanh thương mại có thể khiến tình cảm này đảo chiều nhanh chóng và kích hoạt một sự bán tháo đột ngột trên thị trường tài chính.

“Căng thẳng hơn nữa về căng thẳng thương mại, cũng như rủi ro địa chính trị gia tăng và bất ổn chính sách ở các nền kinh tế lớn, có thể dẫn đến sự suy giảm đột ngột về khẩu vị rủi ro, kích hoạt một sự điều chỉnh rộng rãi trên thị trường vốn toàn cầu và thắt chặt các điều kiện tài chính toàn cầu”, IMF cảnh báo.

Trong Báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu được công bố trước đó 1 ngày, IMF cho rằng sự gián đoạn thương mại toàn cầu đang đe dọa tăng trưởng. Định chế này đã cắt giảm dự báo tăng trưởng toàn cầu 0,2 điểm phần trăm xuống mức 3,7% trong năm 2018 và 2019; đồng thời hạ dự báo tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên toàn thế giới.

Rủi ro càng gia tăng khi những căng thẳng giữa Mỹ và các đối tác thương mại khác, đặc biệt là Trung Quốc, đến đúng vào thời điểm các thị trường mới nổi đang chịu nhiều áp lực, IMF lưu ý. Các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina phải đối mặt với dòng vốn chảy ra lớn và đồng nội tệ sụt giảm mạnh so với đồng USD trong bối cảnh lãi suất ở Mỹ tăng.

Tuy nhiên, vấn đề trên các thị trường mới nổi chỉ xuất hiện ở một số nước cụ thể. “Hiện tại, chúng tôi thấy rất nhiều sự khác biệt giữa các quốc gia, đó là khi so sánh các nền kinh tế tiên tiến với các thị trường mới nổi, chúng tôi thấy rằng điều kiện tài chính vẫn dễ dàng ở các nền kinh tế tiên tiến, song đã thắt chặt phần nào tại các thị trường mới nổi”, Tobias Adrian - Giám đốc Bộ phận thị trường tiền tệ và vốn của IMF nói với CNBC hôm thứ Tư. “Nhưng ngay cả trên các thị trường mới nổi, chúng tôi thấy rất nhiều sự khác biệt”.

Theo đó, có một số quốc gia đã bị ảnh hưởng khá nhiều về dòng vốn chảy ra, giảm giá tiền tệ và, rộng hơn, điều kiện tài chính chặt chẽ hơn. Trong khi các thị trường mới nổi khác chịu tác động nhẹ hơn nhiều. Tuy nhiên, IMF cho biết họ không loại trừ cuộc khủng hoảng lan rộng đến một số lượng lớn hơn các nền kinh tế.

“Khẩu vị rủi ro tăng mạnh trên toàn cầu đến nay đã che đi những thách thức mà các thị trường mới nổi có thể phải đối mặt khi các điều kiện tài chính toàn cầu đột nhiên bị thắt chặt mạnh. Trong trường hợp đó, nguy cơ lây lan đến nhiều thị trường mới nổi lớn hơn có thể xảy ra, nhấn mạnh việc không nên quá chủ quan”, IMF cho biết trong báo cáo.

Một phân tích của IMF cho thấy rằng, các nền kinh tế mới nổi, ngoại trừ Trung Quốc, có thể chứng kiến trên 100 tỷ USD chảy ra trong khoảng thời gian 4 tháng - tương tự về mức độ của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Với Trung Quốc, IMF cho biết, các điều kiện tài chính ở quốc gia này, vốn là trung tâm của cuộc chiến thuế quan liên tục với Mỹ, đã được duy trì “cơ bản ổn định” nhờ chính sách tiền tệ nới lỏng của ngân hàng trung ương.

Theo đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) thực hiện giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tới 4 lần trong năm nay nhằm khuyến khích các ngân hàng đẩy mạnh cho vay doanh nghiệp và hộ gia đình để thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng PBoC vẫn khẳng định rằng chính sách tiền tệ của họ được duy trì “thận trọng và trung lập”, và không “nới lỏng”.

Tuy nhiên, những hành động của PBOC đã giúp giảm bớt một số áp lực đã tích tụ trong hệ thống tài chính của Trung Quốc, IMF cho biết. Ngoài xung đột thương mại, Trung Quốc cũng đang nỗ lực kiểm soát hệ thống ngân hàng ngầm và mức nợ cao của các công ty. Adrian lưu ý rằng, khi nhìn vào nợ công ty hoặc tín dụng phi tài chính, mức đòn bẩy ở Trung Quốc đã “ổn định”.

“Nếu như 10 năm qua được đặc trưng bởi sự gia tăng liên tục trong tỷ lệ đòn bẩy ở Trung Quốc, thì giờ đây nó đã ổn định dần và đó là một tín hiệu tốt cho sự ổn định tài chính”, ông nói.

Tuy nhiên, IMF cho biết, chính quyền Trung Quốc không nên thoái lui nỗ lực cải cách nền kinh tế, đặc biệt là cắt giảm nợ xấu. “Mặc dù các bước đi gần đây có thể giúp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới khi đối mặt với áp lực bên ngoài gia tăng, song chúng có thể gây rủi ro lớn hơn cho sự ổn định tài chính trong trung hạn”, IMF khuyến nghị trong báo cáo.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700