13:30 | 16/01/2019

Nông dân trồng mía đối mặt với khó khăn

Từ lâu, khu vực Tây Nguyên được đánh giá là vựa mía đường lớn của cả nước. Nhiều địa phương ở nơi này, người nông dân sống được nhờ cây mía, xem đây như loại cây xóa đói giảm nghèo. Thế nhưng, những năm gần đây, giá mía đường liên tục giảm sàn khi vào chính vụ khiến người nông dân rơi vào cảnh khó khăn.

Ngành mía đường đuối, doanh nghiệp báo lỗ
Mía đường không còn đường lùi

Điêu đứng vì mía

Không những ảnh hưởng về giá, do thời tiết thất thường, người trồng mía còn đối mặt với những rủi ro như cháy, trổ cờ gây tổn thất trong hoạt động sản xuất. Mới đây, do ảnh hưởng của nắng nóng kéo dài, hơn 100ha mía của người dân trên địa bàn 2 xã Ea Bung và Ya Tờ Mốt huyện Ea Súp (Đăk Lăk) bị cháy trụi.

Người trồng mía đang đối mặt với nhiều thách thức 

Theo ông Lương Văn Tí, thôn 10, xã Ya Tờ Mốt, gia đình có 8ha trồng mía liên kết với Công ty cổ phần Mía đường Đăk Lăk, trong vụ mía năm 2018-2019 mới thu hoạch được hơn 1ha, còn lại 7ha bị lửa thiêu trụi. Hiện gia đình đang tập trung nhân công để tận thu diện tích mía bị cháy để giảm bớt thiệt hại...

Còn tại tỉnh Gia Lai, người trồng mía tại các huyện phía Đông của địa phương này lại đang đối mặt với việc cây mía đột nhiên trổ cờ hàng loạt, gây giảm chất lượng đường.

Theo thống kê của ngành Nông nghiệp tỉnh Gia Lai, niên vụ 2018-2019, Gia Lai có tổng diện tích mía đường trồng ở các huyện, thị xã phía Đông tỉnh khoảng 27.000ha. Diện tích này đã giảm khoảng hơn 2.000ha so với niên vụ 2017-2018. Trong đó, huyện Kông Chro có 7.091ha; Kbang 10.114ha, Đak Pơ 7.160ha và thị xã An Khê 2.921ha…

Thế nhưng, trong thời gian gần đây, do ảnh hưởng của thời tiết bất thường, khoảng 80% diện tích mía đường tại các huyện, thị xã nói trên đồng loạt trổ cờ khiến nhiều nông dân như ngồi trên đồng lửa.

Theo ông Mã Văn Tình, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kbang (Gia Lai), nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng trên là do trong năm 2018 nắng hạn kéo dài, mưa đến muộn, cộng với chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khá cao. Điều đáng lưu ý, khi cây mía bị trổ cờ, sẽ hạn chế phát triển chiều cao. Giai đoạn mía trổ cờ, chữ đường giảm, dẫn đến năng suất thấp, chất lượng đường trong mía bị giảm; phải đến lúc bông khô thì chữ đường mới ổn định trở lại...

Tập trung các giải pháp hỗ trợ

Trước thực trạng này, nhiều nông hộ tại vùng mía đường ở Gia Lai rơi vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Gia đình ông Đoàn Triệu Phú, xã Hà Tam, huyện Đak Pơ có vẻn vẹn hơn 1,5ha đất trồng mía. Mặc dù, mía được ký cam kết và bán cho nhà máy đường An Khê, song vẫn lỗ liên tiếp trong 2 niên vụ qua.

Ông Phú chia sẻ, diện tích mía của gia đình được nhà máy đầu tư từ khâu cày đất, giống, phân bón đến chăm sóc... Niên vụ 2017-2018, thu hoạch được 120 tấn. Thế nhưng, giá mía sụt giảm nên sau khi nhà máy trừ tất cả các loại chi phí đầu tư, thì bị lỗ 12 triệu đồng cùng 20 bao phân bón và công chăm sóc. Đến vụ mía năm nay, giá lại tiếp tục giảm, năng suất cũng chẳng cao hơn. Thu hoạch xong rồi mà gia đình vẫn chưa trả hết nợ.

Hiện nhà máy Đường An Khê đang tiến hành thu mua mía cây của nông dân với giá 800 ngàn đồng/tấn 10 chữ đường. Trong đó, giá mía thu mua tại ruộng 700 ngàn đồng/tấn, cộng với 100 ngàn đồng/tấn tiền hỗ trợ chi phí vận chuyển. So với những vụ trước, giá mía giảm từ 20-30%. Điều này được lãnh đạo nhà máy lý giải do ảnh hưởng bởi giá đường trên thị trường giảm từ 12 ngàn đồng/kg xuống còn 10 ngàn đồng/kg hiện nay.

Trước thực trạng này, chính quyền tỉnh Gia Lai phối hợp với các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn và nhà máy Đường An Khê đề ra các giải pháp để gỡ khó cho người trồng mía trên địa bàn. Hiện các hợp tác xã tập trung xây dựng kế hoạch, bố trí xe vận chuyển mía để đăng ký với nhà máy, giảm cước vận chuyển cho người dân.

Đồng thời, ngành nông nghiệp địa phương khuyến cáo nông dân phá bỏ những diện tích mía đã lưu gốc vụ 3 và vụ 4 kém hiệu quả để trồng mới bằng một số giống mía cho năng suất cao hoặc chuyển đổi sang cây trồng khác có giá trị kinh tế khá hơn.

Đại diện nhà máy đường An Khê cho hay, để tạo điều kiện cho người dân tiếp tục đồng hành, DN tập trung thực hiện 4 chương trình lớn là cơ giới hóa, hóa học hóa, sinh học hóa và tối ưu hóa chi phí nhằm giảm chi phí tối đa cho người trồng mía.

Tới đây, nhà máy sẽ giảm chi phí 15-20% đơn giá cơ giới định mức, riêng cánh đồng lớn giảm 30% so với vụ trước; vùi phân và bón phân bằng máy nhằm giảm thất thoát, bay hơi; đưa vào sản xuất các giống mía mới, đảm bảo số lượng cho người dân trồng mới; giảm thiểu mọi chi phí từ khâu cày bừa, trồng, chăm sóc, thu hoạch…

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450