09:33 | 19/06/2019

Nông sản Việt gia tăng xuất khẩu

Nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu trên thị trường quốc tế đang gia tăng cả về số lượng và giá trị

Tăng cường xuất khẩu vải thiều sang thị trường Trung Quốc
Sự thất thế của trái cây Việt
Đưa nông sản Việt ra thế giới

Theo báo cáo mới nhất của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), giá trị xuất khẩu rau quả tháng 5/2019 của Việt Nam ước đạt 424 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu rau quả 5 tháng đầu năm 2019 ước đạt 1,83 tỷ USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Đại diện Công ty Vina T&T cho biết, để gia tăng sản lượng, kim ngạch xuất khẩu trái cây vào các thị trường khó tính như Mỹ, Canada… DN đã chủ động liên kết với nông dân để hình thành các vùng nguyên liệu, đảm bảo chất lượng sản phẩm từ khâu đầu đến khâu cuối. Đến nay, công ty đã hình thành được 500 ha vùng nguyên liệu tại nhiều tỉnh, thành có khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp cho từng loại cây trồng xuất khẩu khác nhau. Chính nhờ chủ động được nguồn nguyên liệu, cũng như kiểm soát tốt ngay từ khâu đầu vào nên nhiều loại trái cây của Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu của nhà nhập khẩu.

Không riêng gì trái cây, mà nhiều mặt hàng nông sản khác cũng đang cho thấy một mùa vụ tương đối khả quan. Trong đó phải kể đến mặt hàng chè “made in Việt Nam” đang được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu chè của Việt Nam trong tháng 4/2019 đạt 9,4 nghìn tấn, trị giá 15,9 triệu USD, mặc dù giảm 1,5% về lượng, nhưng tăng 3,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu chè đạt 36 nghìn tấn, trị giá 62,6 triệu USD, tăng 3,4% về lượng và tăng 15,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Đáng chú ý, giá xuất khẩu bình quân mặt hàng chè trong tháng 4/2019 đạt 1.699,8 USD/tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng chè trong 4 tháng đầu năm 2019 đạt 1.737,1 USD/tấn, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Một số chuyên gia cho rằng, sở dĩ những tháng đầu năm, mặt hàng chè tăng là do xuất khẩu sang thị trường Pakistan tăng mạnh cả về lượng và trị giá, trong khi đây là một trong những thị trường xuất khẩu chè chiếm tỷ trọng tương đối lớn của Việt Nam.

Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng chè trong tháng 4/2019 đạt 1.699,8 USD/tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2018

Tương tự, sau nhiều thăng trầm, những tháng đầu năm 2019, ngành xuất khẩu cao su đã có dấu hiệu khởi sắc trở lại. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2019, tổng lượng cao su xuất khẩu đạt 378.800 tấn, trị giá 504,16 triệu USD, tăng 28,7% về lượng và tăng 16,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, nhiều DN cao su trong ngành như: CTCP Cao su Tây Ninh, CTCP Cao su Tân Biên, CTCP Cao su Bình Thuận... nhờ tái canh, khai thác hợp lý và áp dụng các biện pháp trồng tỉa, chăm sóc tốt nên đã cho năng suất mủ cao trên 2 tấn/ha. Bên cạnh đó, giá mủ cao su Việt Nam cũng có xu hướng tăng cao cùng với xu hướng chung của giá mủ cao su thế giới nên những DN xuất khẩu trong ngành được hưởng lợi.

Theo Bộ NN&PTNT, tháng 5/2019, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản ước đạt 3,62 tỷ USD. Lũy kế 5 tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 16,1 tỷ USD, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 16,1 tỷ USD, tăng 1,2% so với cùng kỳ, trong đó nhóm hàng nông sản chính ước đạt khoảng 7,7 tỷ USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ. Trong đó, một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu tăng như cao su đạt 662 triệu USD (tăng 2,4%), chè đạt 79 triệu USD (tăng 30%), rau, quả ước đạt 1,8 tỷ USD (tăng 10,3%), hạt điều khối lượng xuất khẩu tăng 7,9%, hạt tiêu khối lượng tăng 33,2%...

Tuy nhiên, vấn đề mà các chuyên gia đặt ra hiện nay chính là, trong những năm qua, nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam liên tục gia tăng về kim ngạch xuất khẩu nhưng thương hiệu vẫn chưa được khẳng định trên thị trường quốc tế. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị hàng hóa xuất khẩu và xét về lâu về dài sẽ không giữ được kim ngạch ổn định, bền vững.

Đơn cử như cao su, nhiều năm qua các DN chủ yếu xuất khẩu thô qua thị trường Trung Quốc, trong khi cuộc chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ đã khiến cho tình hình xuất khẩu của ngành này ảnh hưởng ít nhiều. Hay như đối với sản phẩm rau quả của Việt Nam, dù đa dạng phong phú và đã xuất đi nhiều thị trường khó tính như Nhật, Mỹ, châu Âu, nhưng hiện khâu kiểm định và bảo quản chất lượng vẫn chưa thực sự chưa tốt khiến cho sản lượng xuất đi chưa cao và bấp bênh thời vụ...

Vì vậy, để hướng đến một chiến lược lâu dài cho sản phẩm nông sản Việt, các DN cần phải nhanh chóng khắc phục những mặt hạn chế và không ngừng nâng cao chất lượng, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, đẩy mạnh giá trị gia tăng thay vì chỉ chú trọng xuất thô.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.550
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.550
41.850
Vàng SJC 5c
41.550
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.530
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850