14:49 | 21/03/2019

Tại sao ngành Quản lý quỹ còn chậm phát triển?

Tính đến hết tháng 2/2019, số lượng tài khoản nhà đầu tư là 2,2 triệu tài khoản, trong đó số lượng nhà đầu tư cá nhân là 2,1 triệu tài khoản, chiếm hơn 99%, còn tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức rất ít chỉ khoảng gần 1%.

Ở các nước thị trường chứng khoán (TTCK) phát triển như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan… Tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức, chủ yếu là các Công ty Quản lý qũy đầu tư chiếm tới 80% giá trị giao dịch. Trong khi tỷ lệ này ở Việt Nam theo thống kê của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam, tính đến hết tháng 2/2019, số lượng tài khoản nhà đầu tư là 2,2 triệu tài khoản, trong đó số lượng nhà đầu tư cá nhân là 2,1 triệu tài khoản, chiếm hơn 99%.

Như vậy, tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức rất ít, các cơ quan chủ quản cần có các chính sách thúc đẩy và chuyển dịch tỷ trọng này tiến tới tiệm cận tỷ lệ ở các thị trường chứng khoán phát triển.

Ông Cao Hoài Thanh - Tổng Giám đốc Quỹ LotusCapital chia sẻ, TTCK Việt Nam còn quá non trẻ so với các TTCK đã tồn tại tới hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Thêm nữa, thói quen của đại bộ phận nhà đầu tư cá nhân thường khó tin tưởng việc ủy thác cho các công ty quản lý quỹ, thay vào đó họ thích tự giao dịch và tận hưởng cảm giác “lướt sóng” đầu cơ.

Ngoài ra, ông Thanh cho rằng, có thể do chính sách thuế, ví dụ ở TTCK Singapore, Luxembourg, Hồng Kông, Malaysia… ngành quản lý quỹ được ưu đãi về thuế, miễn thuế thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn và nhà đầu tư tham gia ủy thác vào quỹ được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ quỹ.

Hiện tại ở Việt Nam, ngoài phải nộp thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 20%, công ty quản lý quỹ còn phải khấu trừ 5% thuế thu nhập cá nhân trước khi chi trả lợi tức cho nhà đầu tư cá nhân đầu tư vào quỹ đầu chứng khoán. Điều này có coi là rào cản khiến việc đầu tư thông qua công ty quản lý quỹ trở nên kém hấp dẫn cũng như không quá hỗ trợ để phát triển ngành quản lý quỹ ở TTCK Việt Nam.

Theo thông kê, ở Việt Nam hiện nay có 45 công ty quản lý quỹ được cấp giấy phép hoạt động, con số này khá khiêm tốn so với sự tăng trưởng về quy mô và giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán.

Nhìn ra các thị trường khác có thể thấy như Hồng Kông có 2.183 quỹ mở trong tổng số 2.751 quỹ trên thị trường, Malaysia có 629 quỹ, Singapore có hơn 1.300 quỹ… Như vậy, dư địa để phát triển ngành quỹ còn rất lớn, không chỉ có ý nghĩa cho TTCK mà còn cho nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế.

Nhiều công ty quản lý quỹ đã gặt hái được những thành tựu lớn trên TTCK như: Công ty cổ phần Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam (VFM), Công ty cổ phần Quản lý quỹ MB (MB Capital), Công ty cổ phần Quản lý quỹ Kỹ thương (Techcom Capital), Công ty liên doanh Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Vietcombank (VCBF), Công ty Quản lý quỹ Bảo Việt.

Một số công ty quản lý quỹ đã tái cấu trúc thành công từ nhân sự, chiến lược, hình ảnh cho tới danh mục ủy thác đầu tư có thể kể đến là Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ Bông Sen (Lotus Capital).

Lotus Capital được thành lập từ năm 2009, là công ty quản lý quỹ đầu tiên thành lập quỹ mở quản lý vốn cho các nhà đầu tư Nhật Bản với quỹ Mekong Capital. Lotus Capital hiện đang quản lý quỹ Lotus Mekong River Equity Fund và đang hoàn thiện hồ sơ thành lập 2 quỹ mới, trong đó có 1 quỹ chuyên biệt về đầu tư trái phiếu là Lotus Bond Fund.

Như vậy, có thể thấy làn sóng tái cấu trúc các công ty quản lý quỹ diễn ra khá “im lặng” nhưng quyết liệt nhằm nắm bắt xu hướng đầu tư và tận dụng tối đa dòng vốn ngoại đang chảy vào Việt Nam mặc dù chưa thực sự được hỗ trợ nhiều về mặt chính sách.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850