08:36 | 10/10/2018

Tín dụng tăng thấp nhưng hiệu quả cao

Tuy tăng trưởng tín dụng có chậm lại đôi chút, song dòng vốn được hướng mạnh vào nền kinh tế thực nên vẫn đủ sức để hỗ trợ nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao.

Dòng vốn vào lĩnh vực rủi ro được kiểm soát
Ngân hàng cấu trúc lại danh mục cho vay
Con số tăng trưởng tín dụng sẽ tùy vào thực tế của nền kinh tế

Theo số liệu của Tổng tục Thống kê, tính đến ngày 20/9/2018, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 9,52%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 11,02% của cùng kỳ năm 2017 11,02% và cũng thấp hơn mức tăng 10,46% của cùng kỳ năm 2016. Mặc dù tín dụng tăng thấp, song tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm vẫn đạt tới 6,98% và là mức tăng trưởng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2011. Điều đó cho thấy hiệu quả tín dụng đã được cải thiện hơn những năm trước rất nhiều.

Ảnh minh họa

Có được điều đó một phần cũng bởi những năm gần đây, NHNN liên tục chỉ đạo, đôn đốc các TCTD tập trung vốn vào sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng chảy vào các lĩnh vực rủi ro như bất động sản, chứng khoán, các dự án BT, BOT giao thông… Vì thế, tuy tăng trưởng tín dụng có chậm lại đôi chút, song dòng vốn được hướng mạnh vào nền kinh tế thực nên vẫn đủ sức để hỗ trợ nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao.

Việc kiểm soát chặt tín dụng chảy vào các lĩnh vực rủi ro cũng khiến chất lượng tín dụng được cải thiện tích cực, qua đó khiến tăng trưởng tín dụng dù thấp nhưng thực chất hơn khi mà lượng tín dụng “chết” trong các khoản nợ xấu giảm mạnh. Song song với đó, hiện toàn hệ thống cũng đang quyết liệt xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 của Quốc hội, đưa tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống giảm về chỉ còn 2,09% tại thời điểm cuối tháng 6/2018 từ mức 2,46% thời điểm cuối năm 2016. Nợ xấu giảm mạnh cũng có nghĩa một lượng vốn không nhỏ đã được giải phóng, chảy vào hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm nay thay vì nằm chết một chỗ dù vẫn được thống kê vào dư nợ tín dụng.

Trong một báo cáo mới đây, hãng định mức tín nhiệm toàn cầu Moody’s cũng đánh giá, chất lượng tài sản của các ngân hàng đã được cải thiện tích cực trong năm 2017 so với năm 2016 và sẽ tiếp tục được cải thiện hơn nữa trong năm 2018. Trong một báo cáo công bố ngày 26/9, Fitch Ratings cũng đánh giá, hoạt động các ngân hàng Việt sẽ tiếp tục được cải thiện trong nửa cuối năm 2018 nhờ vào chất lượng tín dụng và khả năng sinh lời tốt hơn.

Rõ ràng, việc hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế - hoạt động an toàn hiệu quả sẽ là điểm tựa vững chắc để nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định trong thời gian tới.

Trong khi đó, việc tín dụng tăng thấp hơn cùng kỳ cũng được giới chuyên gia đồng tình đánh giá là hoàn toàn hợp lý trong bối cảnh áp lực lạm phát năm nay cao hơn nhiều so với các năm trước. Bên ngoài giá nhiều loại hàng hóa cơ bản, đặc biệt là dầu thô tăng cao cùng với đà phục hồi của kinh tế thế giới. Trong khi việc Fed liên tục tăng lãi suất và dự báo sẽ còn tăng tiếp 1 lần nữa vào cuối năm nay và 3 lần trong năm 2019 càng tạo thêm sức ép đến tỷ giá và lạm phát tại nhiều nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.

Chưa hết, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung leo thang càng khiến cho diễn biến giá cả hàng hóa toàn cầu, kéo theo đó là lạm phát thêm khó lường. Trong khi trong nước việc giá xăng tăng nhanh theo đà tăng của giá xăng dầu thế giới, cộng thêm việc điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do nhà nước quản lý theo lộ trình cũng tạo sức ép lớn đến lạm phát.

Rõ ràng, trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ không thể nghiêng về xu hướng nới lỏng để thúc đẩy tăng trưởng như những năm trước được mà NHNN đã linh hoạt chuyển hướng sang chính sách tiền tệ thận trọng. Theo đó, tăng trưởng tín dụng được siết chặt hơn một chút, song vẫn đảm bảo đủ nguồn vốn cho nền kinh tế thực để hỗ trợ đà tăng trưởng.

Nhờ đó, nền kinh tế không chỉ duy trì được tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực mà lạm phát vẫn được kiểm soát ở mức thấp, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2018 chỉ tăng 3,57% so với bình quân cùng kỳ năm 2017, vẫn nằm trong mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đã đề ra là kiểm soát lạm phát bình quân dưới 4%. Đặc biệt, lạm phát cơ bản tháng 9/2018 tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2018 tăng 1,41% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

Trong một báo cáo được công bố mới đây, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cũng đánh giá cao điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Đáng chú ý theo cơ quan này, NHNN đã và đang điều hành tín dụng thận trọng nhằm hạn chế áp lực lạm phát và tạo dư địa ứng phó trước rủi ro suy giảm kinh tế trong các quý cuối năm.

“Lạm phát tăng chủ yếu do biến động của giá cả, không phải do tiền tệ và tổng cầu thay đổi. Do đó, những diễn biến này không có gì bất thường và chỉ là nhất thời”, TS. Nguyễn Đình Cung - Viện trưởng CIEM nhìn nhận và khuyến nghị, không nên nới lỏng chính sách tiền tệ, tạo sức ép giảm lãi suất trong bối cảnh hiện nay.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.295 23.385 26.828 27.688 30.409 30.896 204,93 213,12
BIDV 23.300 23.380 26.817 27.138 30.514 30.986 205,84 209,29
VietinBank 23.297 23.387 26.750 27.128 30.381 30.941 205,35 208,75
Agribank 23.280 23.380 26.802 27.160 30.531 30.939 206,10 208,85
Eximbank 23.300 23.380 26.785 27.129 29.600 30.916 206,11 208,76
ACB 23.300 23.392 26.875 27.235 30.633 30.988 206,24 209,30
Sacombank 23.295 23.387 26.884 27.245 30.545 30.900 206,87 209,90
Techcombank 23.280 23.380 26.563 27.276 30.210 31.043 20476 210,00
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.772 27.239 30.500 30.922 206,55 210,27
DongA Bank 23.300 23.380 26.830 27.140 29.540 30.910 204,80 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.650
Vàng SJC 5c
36.510
36.670
Vàng nhẫn 9999
34.690
35.090
Vàng nữ trang 9999
34.240
35.040