12:00 | 09/10/2019

Tín hiệu xấu cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô toàn cầu đang có dấu hiệu đi xuống, diễn biến của chỉ số sản xuất công nghiệp cũng đang làm dấy lên những lo ngại đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Chỉ số PMI sản xuất toàn cầu theo thống kê của JP Morgan đã chịu tác động mạnh mẽ từ những diễn biến kinh tế vĩ mô toàn cầu khi rơi vào ngưỡng thu hẹp liên tục qua các tháng của quý III. Cụ thể, chỉ số PMI đã giảm xuống còn 49,3 điểm trong tháng 7, phục hồi nhẹ trong 2 tháng tiếp theo ở mức 49,5 điểm trong tháng 8 và 49,7 điểm trong tháng 9. Như vậy, chỉ số PMI đã ghi nhận chuỗi thu hẹp kéo dài liên tục kể từ tháng 5 trở lại đây, trong đó mức thu hẹp của tháng 7 là mạnh nhất trong vòng 81 tháng qua. 

Chỉ số PMI sản xuất toàn cầu

Xét theo ngành sản xuất, xu hướng đi xuống của chỉ số PMI được ghi nhận rõ rệt tại 2 nhóm ngành hàng hóa trung gian và hàng hóa đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Trong khi đó, nhóm hàng hóa tiêu dùng vẫn duy trì được ở ngưỡng mở rộng.

Xét theo khu vực kinh tế, sự suy giảm của chỉ số PMI được ghi nhận tại một số nền kinh tế phát triển cũng như tại nhiều quốc gia đang phát triển và mới nổi. Cụ thể, chỉ số PMI tại nhiều nền kinh tế đầu tàu như Nhật Bản, Anh, khu vực EU, Trung Quốc đã rơi xuống dưới ngưỡng thu hẹp là 50 điểm. Bên cạnh đó, chỉ số PMI cũng diễn biến chậm lại tại nhiều quốc gia đang phát triển như Nga, Brazil, Colombia, Đài Loan, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ...

Hầu hết các chỉ số PMI thành phần đều đang có chiều hướng đi xuống như các thống kê về sản lượng đầu ra, số lượng đơn đặt hàng mới, tuyển dụng lao động và giá cả đầu vào. Đặc biệt chỉ số đơn đặt hàng xuất khẩu mới có 13 tháng giảm liên tục, kết thúc quý III còn đang rơi vào ngưỡng thu hẹp là 48 điểm cho thấy những biến động thương mại toàn cầu tiếp tục có ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu tại các nền kinh tế.

Tại khu vực ASEAN, các điều kiện hoạt động tại các công ty sản xuất trong các tháng gần đây cũng đã suy giảm với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 11/2015. Theo đó, chỉ số toàn phần đã tiếp tục nằm dưới ngưỡng 50 điểm trong 3 tháng liên tiếp của quý III báo hiệu sức khỏe của lĩnh vực sản xuất ASEAN tiếp tục suy giảm với tốc độ nhanh nhất kể từ cuối năm 2015.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.160
41.580
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420