08:58 | 14/03/2019

Tổng lợi nhuận sau thuế 2018 của doanh nghiệp niêm yết HNX tăng 11,4%

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) vừa công bố số liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết quý IV/2018, trong đó đáng chú ý là tổng lợi nhuận sau thuế 2018 của các doanh nghiệp niêm yết HNX đạt 19.935,7 tỷ đồng, tăng 11,4% so với năm 2017.

Cụ thể, HNX cho biết số doanh nghiệp niêm yết phải công bố báo cáo tài chính quý IV/2018 là 369 công ty (không bao gồm 8 công ty niêm yết thay đổi niên độ kế toán là VTL, GLT, MHL, IDV,SJ1, KTS, SLS, VDL). Tính đến hết tháng 2/2019, đã có 360 công ty công bố báo cáo tài chính quý IV/2018. 

Theo kết quả báo cáo tài chính tự lập quý IV/2018 của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX, có 325 doanh nghiệp có kết quả hoạt động kinh doanh có lãi với tổng giá trị lãi đạt 20.946,8 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 quý năm 2018, tổng lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp niêm yết HNX đạt 19.935,7 tỷ đồng, tăng 2.042,3 tỷ đồng (11,4%) so với năm 2017.

Theo thống kê, có 7/11 ngành có tổng lãi năm 2018 tăng so với năm 2017, trong đó 3 ngành có tổng lãi tăng mạnh so với năm 2017 là ngành tài chính (tăng 2.827 tỷ đồng), ngành công nghiệp (tăng 674 tỷ đồng), ngành bất động sản (tăng 256 tỷ đồng).

 Năm 2017, ngành tài chính có mức tăng trưởng kết quả kinh doanh đạt 54% thì trong năm 2018, ngành này tiếp tục duy trì tăng trưởng kết quả kinh doanh và là ngành có kết quả kinh doanh tăng mạnh nhất khi tổng lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp ngành tài chính tăng 48,7% (từ 5.824,9 tỷ đồng năm 2017 lên 8.659,3 tỷ đồng năm 2018).

Những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất của ngành tài chính trong năm thuộc nhóm ngân hàng, còn một số doanh nghiệp thuộc nhóm chứng khoán có kết quả kinh doanh giảm so với năm 2017.

Ngành bất động sản có kết quả kinh doanh tăng trưởng tốt so với năm 2017 với tổng lợi nhuận của toàn ngành trong năm 2018 tăng 35,5% so với năm 2017 (từ 1.171,5 tỷ đồng năm 2017 tăng lên 1.586 tỷ đồng năm 2018).

Các công ty có kết quả kinh doanh tăng mạnh nhờ đẩy mạnh hoạt động bán hàng hóa, tăng doanh thu và áp dụng các biện pháp cắt giảm chi phí. Một số ngành có tổng lãi năm 2018 giảm mạnh so với năm trước là ngành xây dựng (giảm 1.714 tỷ đồng), ngành khai khoáng và dầu khí (giảm 394 tỷ đồng)...

Cũng theo giá trị lũy kế cả 4 quý năm 2018 của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX, số doanh nghiệp có kết quả kinh doanh thua lỗ là 35 công ty, tăng 16,7% so với năm trước, tuy nhiên tổng lỗ năm 2018 là -1.011,1 tỷ đồng, giảm 15,3% so với năm 2017. Trong đó, có 3/11 ngành có tổng kết quả kinh doanh lỗ tăng so với năm 2017 lần lượt là ngành công nghiệp, ngành xây dựng và ngành y tế với tổng lỗ tăng -137,6 tỷ đồng.

Có 7/11 ngành còn lại có tổng lỗ giảm hoặc bằng cùng kỳ năm trước, đặc biệt có 4 ngành không có kết quả kinh doanh lỗ trong năm 2018 gồm có ngành vận tải kho bãi, ngành hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ, hành chính và dịch vụ hỗ trợ, ngành thông tin, truyền thông và các hoạt động khác, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

Một số ngành có tổng lỗ giảm mạnh là ngành bất động sản (giảm lỗ từ -161,2 tỷ đồng năm 2017 xuống -1,7 tỷ đồng năm 2018), ngành khai khoáng dầu khí (giảm lỗ từ -443,7 tỷ đồng năm 2017 xuống -322,9 tỷ đồng năm 2018)...

Xem xét trên tổng lợi nhuận sau thuế năm 2018 của toàn thị trường niêm yết tại HNX, ngành xây dựng là ngành có kết quả kinh doanh giảm mạnh nhất toàn thị trường so với năm 2017 khi giảm tương đương 51,1% (từ 3.380 tỷ đồng năm 2017 giảm xuống 1.642 tỷ đồng năm 2018) và có tới 40/68 doanh nghiệp ngành xây dựng có kết quả kinh doanh năm 2018 giảm so với năm 2017.

Bên cạnh xu hướng chung về việc giảm lợi nhuận so với năm 2017 của các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng thì cũng có một số doanh nghiệp có lợi nhuận tăng trưởng so với năm 2017 do tăng trưởng từ hoạt động xây lắp và gia tăng khoản lợi nhuận từ hoạt động tài chính, đồng thời áp dụng chính sách tinh giảm bộ máy, tăng cường công tác quản lý và tiết kiệm chi phí của công ty...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.375 23.495 25.924 26.730 29.473 29.945 208,21 216,93
BIDV 23.350 23.470 25.909 26.659 29.483 29.980 209,73 215,03
VietinBank 23.355 23.485 25.900 26.635 29.437 30.077 210,08 216,58
Agribank 23.345 23.440 25.887 26.283 29.465 29.948 209,50 213,28
Eximbank 23.295 23.470 25.925 26.282 29.595 30.003 210,71 213,61
ACB 23.370 23.470 25.917 26.273 29.653 29.984 210,82 213,71
Sacombank 23.322 23.477 25.934 26.392 29.628 30.037 209,96 214,53
Techcombank 23.355 23.495 25.678 26.539 29.256 30.137 209,43 216,66
LienVietPostBank 23.330 23.470 25.844 26.321 29.580 30.020 210,17 214,09
DongA Bank 23.370 23.460 25.960 26.260 29.600 29.970 207,30 213,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.220
36.410
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.220
36.390
Vàng SJC 5c
36.220
36.410
Vàng nhẫn 9999
36.240
36.640
Vàng nữ trang 9999
35.790
36.390