17:19 | 31/07/2019

TP.HCM: Nhập khẩu thịt lợn tăng 4.800 tấn so với cùng kỳ

Ngày 31/7, báo cáo UBND TP.HCM, Giám đốc Sở Công thương Phạm Thành Kiên cho biết, lượng thịt lợn nhập khẩu qua cửa khẩu hải quan TP.HCM với khối lượng khoảng 5.647 tấn trong 6 tháng đầu năm 2019 tăng 4.800 tấn so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn 6 tháng đạt 10,29 triệu USD tăng 8,1 triệu USD so với cùng kỳ.

Hiện tại, chỉ có 24 quốc gia, vùng lãnh thổ có đủ điều kiện xuất khẩu thịt và sản phẩm từ thịt lợn vào Việt Nam gồm: Úc, Áo, Bỉ, Braxin, Canada, Đan Mạch, Pháp. Đức, Hungary, Ấn Độ, Ai-Len, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lithuania, Malaysia, Hà Lan, NewZeland, Tây Ban Nha, Ba Lan, Mỹ, Nga và Mexico.

Trong đó, lượng thịt lợn nhập khẩu nhiều nhất từ các nước: Braxin 2.368 tấn với kim ngạch 4,39 triệu USD; Mỹ 874 tấn với kim ngạch 1,75 triệu USD; Ba Lan 848 tấn với kim ngạch 1,41 triệu USD; Bỉ 238 tấn với kim ngạch 620 ngàn USD; Hà Lan 210 tấn với kim ngạch 431 ngàn USD.

Ông Kiên cho rằng, lượng thịt lợn nhập khẩu tăng chủ yếu do giá nhập khẩu chỉ khoảng 30.000 đồng/kg, thấp hơn giá trong nước (giá trong nước khoảng 35.000 đồng/kg), đồng thời kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, các rào cản thương mại bị gỡ bỏ, thị trường thịt lợn trong nước có sự liên thông nhất định với thị trường nước ngoài.

Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp nhập thịt lợn để chế biến thực phẩm (giò, chả, xúc xích...) ít bán ra thị trường do không phù hợp thị hiếu (người tiêu dùng ưa dùng thịt lợn tươi), nếu có thịt tươi chủ yếu là thịt lợn đặc sản hoặc thịt lợn cao cấp.

Tình hình tiêu thụ thịt lợn cũng không đều giữa kênh truyền thống và kênh hiện đại trong khi sản lượng tiêu thụ thịt lợn tại chợ giảm thì tại siêu thị tăng nhẹ, nguyên nhân do tâm lý người tiêu dùng lo ngại dịch bệnh, ngại mua thịt lợn ở kênh truyền thống không đảm bảo an toàn.

Sở Công thương TP.HCM đã triển khai, đôn đốc doanh nghiệp bình ổn thị trường chủ động xây dựng kế hoạch tạo nguồn hàng các mặt hàng thực phẩm thiết yếu: thịt lợn, thịt gà, trứng gia cầm... đảm bảo cung ứng đạt, vượt kế hoạch thành phố giao trong mọi tình huống thị trường.

Hiện nay, trong bối cảnh quy mô chăn nuôi giảm, nguồn cung giảm, nhu cầu giảm mạnh do tâm lý, giá xuống thấp, Sở Công thương TP.HCM đã đẩy mạnh kích cầu tiêu dùng, tăng cường thu mua, cấp đông, dự trữ thịt lợn; xây dựng phương án nhập khẩu, tăng nguồn cung các mặt hàng thực phẩm thay thế như thịt gia cầm, rau, củ quả...

Tuy nhiên Sở Công thương TP.HCM cũng nhìn nhận, do dịch tả lợn châu Phi hiện đang diễn biến phức tạp, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ giảm đàn do rủi ro chăn nuôi cao, giá cả duy trì ở mức thấp, nhu cầu tiêu dùng giảm, gây khó khăn cho công tác chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết Canh Tý 2020.

Nhằm tổ chức triển khai và thực hiện có hiệu quả Chương trình bình ổn thị trường từ nay đến Tết Canh Tý 2020, Sở Công thương TP.HCM triển khai nắm chắc tình hình diễn biến thị trường, thực hiện kịp thời, kiểm tra sâu sát chỉ đạo của UBND TP.HCM.

Đồng thời, nâng cao năng lực của các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn, hỗ trợ nâng cao năng lực của các HTX sản xuất nông sản, thực phẩm... đáp ứng chất lượng sản phẩm hàng hóa tham gia Chương trình: Đẩy mạnh việc kết nối giữa các TCTD với doanh nghiệp, HTX tiếp cận được nguồn vay với lãi suất phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư liên kết phát triển sản xuất kinh doanh mở rộng chuồng trại, ứng dụng đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng chủng loại hàng hóa, phong phú với mẫu mã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn thành phố...

Riêng đối với mặt hàng thịt lợn, tiếp tục đôn đốc doanh nghiệp bình ổn thị trường đảm bảo cung ứng đạt, vượt kế thành phố giao.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.650
42.000
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.650
42.000
Vàng SJC 5c
41.650
42.020
Vàng nhẫn 9999
41.600
42.100
Vàng nữ trang 9999
41.200
42.000