17:13 | 08/10/2019

Việt Nam là thị trường duy nhất tăng điểm trong khu vực

Xét riêng trong quý III/2019, Việt Nam là thị trường chứng khoán duy nhất trong khu vực tăng điểm với mức tăng 4,9%.

Thị trường tăng điểm nhưng phân hóa mạnh

Báo cáo vĩ mô mới đây của CTCP Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) cho biết, Việt Nam và Singapore là 2 thị trường chứng khoán duy nhất tăng điểm trong tháng 9 tại khu vực với các mức tăng lần lượt là 1.3% và 0.4%. Xét riêng trong quý III cũng cho thấy, Việt Nam là thị trường chứng khoán duy nhất tăng điểm với mức tăng 4,9%.

Đà tăng của VN-Index bắt đầu từ vùng đáy ngắn hạn tháng 6, tăng vượt 1.000 điểm trong tháng 7. Tuy nhiên, áp lực chốt lãi và sự phân hóa của nhóm cổ phiếu chủ chốt kéo chỉ số đi ngang trong khoảng từ 960 - 1.000 điểm trong tháng 8 và 9. Thị trường chứng khoán quý III giao dịch giằng co giữa 2 luồng thông thông tin tích cực về việc nới lỏng chính sách tiền tệ diễn ra trên quy mô rộng của NHTW các nước và tiêu cực về triển vọng kinh tế thế giới cũng như sự suy yếu của nhiều nền kinh tế.

Phân tích của BSC cũng cho rằng, đà tăng của VN-Index trong quý III vừa qua đến chủ yếu từ nhóm cổ phiếu VN30. Cụ thể, trong khi nhóm VN30 và nhóm LargeCap ghi nhận hiệu suất dương lần lượt là 3,4% và 0,5% thì hiệu suất của các nhóm cổ phiếu MidCap, SmallCap và Pennies lại giảm lần lượt -1,2%, -2,5% và -2,1%.

Xét về ngành trong quý III, các ngành như bán lẻ, công nghệ thông tin và ngân hàng dẫn đầu với các mức tăng lần lượt là 28,6%, 23,7% và 13,4%. Kết quả kinh doanh tích cực của các cổ phiếu dẫn đầu ngành, giúp cho các lĩnh vực trên có mức tăng giá vượt trội so với thị trường. Ở chiều ngược lại, bảo hiểm, tài nguyên cơ bản và Truyền thông giảm điểm lần lượt -6,0%, -6,6% và -10,5%.

Như vậy, “mặc dù thị trường tăng điểm nhưng cũng chỉ có 10/18 ngành tăng điểm. Điều này cho thấy mức độ phân hóa của thị trường diễn ra mạnh mẽ trong quý III”, BSC nhấn mạnh.

Kỳ vọng dòng tiền mới từ các quỹ ETFs nội

Nhận định về thị trường trong quý IV, trên cơ sở đánh giá các yếu tố tác động trong và ngoài nước, BSC cho rằng VN-Index có thể vận động từ 940 -1.050 điểm, trong đó vùng giá trọng tâm xoay quanh 980 điểm.

Cũng theo tính toán của BSC, hiện chỉ số P/E (hệ số giá/lợi nhuận một cổ phiếu) của VN30, tập hợp 30 cổ phiếu hàng đầu, chỉ khoảng 14,1%. Đây được coi là mức định giá khá hợp lý cho hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, vướng mắc chính hiện nay là nhiều cổ phiếu trong rổ VN30 không còn room, gây trở ngại lớn đối với nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia thị trường.

Trong khi chờ đợi các quy định có tính đột phá, việc các quỹ trong nước đang huy động vốn cho các quỹ ETF dựa trên bộ chỉ số VN-Diamond Index và VN-Capped Financial Index của Hose sẽ là giải pháp huy động vốn ngoại hiệu quả.

Khối ngoại hiện đang sở hữu khoảng 20% vốn hóa toàn thị trường và duy trì mua ròng khoảng 360 triệu USD trong 9 tháng đầu năm. Việt Nam vẫn là quốc gia hiếm hoi trong khu vực thu hút được hoạt động mua ròng của khối ngoại. Ngoài hoạt động mua ròng qua các giao dịch thỏa thuận, các quỹ ETFs tiếp đóng vai trò giao dịch tích cực trong 9 tháng đầu năm. Chính sách nới lỏng tiền tệ của các nền kinh tế chủ chốt có thể giúp dòng tiền quay lại khu vực thị trường mới nổi. Dòng tiền do vậy sẽ có độ trễ và dự báo chưa thể đột biến trong 3 tháng cuối năm.

Mặc dù vậy, thị trường có thể kỳ vọng vào các quỹ ETFs nội hoạt động dựa trên 2 bộ chỉ số, VN-Diamond Index và VN-Capped Financial Index. Các cổ phiếu trong rổ của 2 bộ chỉ số này phần lớn đã hết tỷ lệ được phép mua của khối ngoại. Việc ra đời của các quỹ ETFs này giải quyết một phần nhu cầu đầu tư của khối ngoại vào các cổ phiếu chất lượng nhưng đã hết hoặc còn lại room không đáng kể.

Do đó, “sự ra đời các quỹ ETFs nội này kỳ vọng sẽ thu hút được dòng vốn ngoại và qua đó hỗ trợ thị trường trong quý IV” BSC nhận định.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.220
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.220
41.470
Vàng SJC 5c
41.220
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470