Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng: Mở ra thời kỳ mới của ngành Ngân hàng

08:00 | 16/08/2018

Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã bao hàm tất cả các lĩnh vực của ngành Ngân hàng, từ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng đến hoạt động quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) với hàng loạt các mục tiêu và các nhóm giải pháp được đặt ra.

Thủ tướng phê duyệt chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025

Ngày 8/8/2018, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 986/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Chiến lược nêu rõ quan điểm của Chính phủ coi hệ thống tiền tệ, ngân hàng và hoạt động của các tổ chức tín dụng là huyết mạch của nền kinh tế, tiếp tục giữ vai trò trọng yếu trong tổng thể hệ thống tài chính Việt Nam... Chiến lược cũng đề ra những mục tiêu cụ thể với các giải pháp và lộ trình thực hiện cho từng giai đoạn, kỳ vọng mở ra thời kỳ mới của ngành Ngân hàng.

Để bạn đọc có cái nhìn toàn cảnh, những trụ cột chính của chiến lược, phóng viên Thời báo Ngân hàng đã có cuộc phỏng vấn Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh

Phó Thống đốc có thể cho biết những mục tiêu chính của Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030?

Xuất phát từ việc đánh giá sâu sắc thực trạng của ngành Ngân hàng trong gần hai thập kỷ qua, cũng như nhận định cơ hội, thách thức của bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước 10 năm tới và đứng trên quan điểm phát triển Ngành đã được xác định, mục tiêu tổng quát phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được đề cập theo hai cấp độ, phù hợp với tính chất và chức năng hoạt động về mặt thể chế, đó là: Hiện đại hóa NHNN Việt Nam theo hướng: có mô hình tổ chức hợp lý và cơ chế vận hành đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có đầy đủ vị thế pháp lý và trách nhiệm giải trình; trong đó ba trụ cột cơ bản trong quản lý nhà nước của NHNN cũng được định hướng rõ nét.

Cụ thể, về chính sách tiền tệ phải đảm bảo thực hiện mục tiêu ưu tiên là kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng bền vững; Hoạt động thanh tra, giám sát phải đảm bảo an toàn, lành mạnh hệ thống các tổ chức tín dụng, NHNN thể hiện được vai trò chủ chốt bảo đảm ổn định tài chính; Và lĩnh vực thanh toán thực thi vai trò giám sát các hệ thống thanh toán, là trung tâm thanh toán và quyết toán cho các hệ thống thanh toán và hệ thống giao dịch tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế.

Phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng theo hướng: các tổ chức tín dụng trong nước đóng vai trò chủ lực; hoạt động minh bạch, cạnh tranh, an toàn, hiệu quả bền vững; cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình; dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến, phù hợp với chuẩn mực hoạt động theo thông lệ quốc tế.

Theo đó, phấn đấu đến năm 2025, hệ thống các tổ chức tín dụng đạt trình độ phát triển của nhóm bốn nước dẫn đầu khu vực ASEAN; năng động, sáng tạo để thích ứng với quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa; đáp ứng nhu cầu về dịch vụ tài chính, ngân hàng ngày càng gia tăng của nền kinh tế. Năm 2030, bảo đảm mọi người dân và doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận đầy đủ, thuận tiện các dịch vụ tài chính, ngân hàng có chất lượng, thực hiện tài chính toàn diện, đóng góp tích cực cho phát triển bền vững.

Chiến lược có bẩy mục tiêu cụ thể, bao gồm: Thứ nhất, tăng dần tính độc lập, chủ động và trách nhiệm giải trình của NHNN về thực hiện mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát ở mức phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững.

Giảm dần tỷ lệ tín dụng ngoại tệ/tổng tín dụng, phấn đấu tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán đạt mức dưới 7,5% vào năm 2020 và mức 5% vào năm 2030; tiến tới ngừng cho vay ngoại tệ để chậm nhất đến năm 2030 cơ bản khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.

Thứ hai, tăng cường năng lực thể chế, hiệu lực, hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN; Mở rộng phạm vi thanh tra, giám sát đến các tập đoàn tài chính dưới hình thức công ty mẹ - con, trong đó công ty mẹ là tổ chức tín dụng. Đến cuối năm 2025, thanh tra, giám sát ngân hàng tuân thủ phần lớn các nguyên tắc giám sát ngân hàng hiệu quả theo Basel.

Thứ ba, đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tối ưu hóa mạng lưới ATM và POS. Đến cuối năm 2020, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở mức dưới 10%; đến cuối năm 2025, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở mức dưới 8%.

Thứ tư, tăng số lượng doanh nghiệp và người dân tiếp cận với các dịch vụ tài chính, ngân hàng do các tổ chức tín dụng cung ứng. Tập trung phát triển các loại hình dịch vụ phù hợp phục vụ các nhóm dân cư chưa hoặc ít được tiếp cận với dịch vụ ngân hàng truyền thống ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Thứ năm, phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng của hệ thống qua từng giai đoạn, cụ thể: Giai đoạn 2018 - 2020, tập trung cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng theo các nội dung đã được phê duyệt tại Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ; Giai đoạn 2021-2025, nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh, tăng sự minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế tốt trong quản trị và trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Thứ sáu, tăng hiệu quả phân bổ nguồn vốn tín dụng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Thúc đẩy phát triển “tín dụng xanh”, “ngân hàng xanh” để góp phần chuyển đổi nền kinh tế sang hướng tăng trưởng xanh, phát thải các bon thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu; Tăng tỷ trọng vốn tín dụng ngân hàng đầu tư vào năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, các ngành sản xuất và tiêu dùng ít các bon. Lồng ghép các nội dung về phát triển bền vững, biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh trong các chương trình, dự án vay vốn tín dụng.

Và mục tiêu thứ bẩy: từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế về tiền tệ ngân hàng, phục vụ cho phát triển ngành Ngân hàng, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động cũng như sự phát triển không ngừng của công nghệ. Dựa trên những cơ sở nào để ngành Ngân hàng xây dựng mục tiêu phát triển dài hạn, cụ thể như vậy, thưa Phó Thống đốc?

Chiến lược được xây dựng để chuẩn bị cho thời kỳ phát triển tiếp theo của ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, dựa trên cơ sở từ thực tiễn Việt Nam cũng như có học hỏi kinh nghiệm các nước.

Về thực tiễn, đảm bảo sự kế thừa có chọn lọc những mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ đặt ra cho ngành Ngân hàng trong giai đoạn 2006 - 2010 và 2011 - 2015, gắn với các Đề án quan trọng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cơ sở thực tiễn cũng bao gồm việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động ngành Ngân hàng giai đoạn 10 năm (2006 - 2016) gắn với việc tổng kết quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước, Chính phủ giao cho ngành Ngân hàng và các đánh giá, nhận diện bối cảnh kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế, những xu hướng chủ yếu có thể tác động đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng như xu hướng toàn cầu hóa, xu hướng phổ cập tài chính, xu hướng phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Về cơ sở pháp lý, bao gồm các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho ngành Ngân hàng tại các chương trình hành động của Chính phủ, Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Chiến lược, Đề án đã được Chính phủ phê duyệt.

Đặc biệt, Chiến lược cũng nhấn mạnh việc bảo đảm sự nhất quán với hành lang pháp lý trong hoạt động tiền tệ, ngân hàng như hành lang pháp lý cho việc điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá; quản lý ngoại hối và thị trường vàng; hoạt động thanh tra, giám sát hệ thống các tổ chức tín dụng; hoạt động thanh toán; hoạt động tín dụng… Đồng thời, bảo đảm việc tuân thủ và áp dụng các thông lệ và chuẩn mực quốc tế trong hoạt động điều hành của NHNN và hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Hiện nay, NHNN đang xây dựng Chương trình hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược, trong đó có kế hoạch giám sát thực hiện Chiến lược, dự kiến sơ kết đánh giá ở cuối mỗi giai đoạn của Chiến lược và chỉnh sửa các nội dung của Chiến lược nếu cần thiết để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và khả năng đạt được các mục tiêu đề ra nhằm đảm bảo tính khả thi cao của Chiến lược.

Phấn đấu đến năm 2025, hệ thống các TCTD đạt trình độ phát triển của nhóm bốn nước dẫn đầu khu vực ASEAN

Phó Thống đốc có thể cho biết giải pháp chủ yếu cũng như lộ trình thực hiện Chiến lược?

Để hiện thực hóa các mục tiêu đã đặt ra, Chiến lược cũng chỉ rõ ngành Ngân hàng cần thực hiện đồng bộ 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.

Chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, ngân hàng trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập. Tăng cường năng lực, nâng cao vị thế, tính tự chủ và trách nhiệm giải trình của NHNN. Đổi mới khuôn khổ chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối và vàng. Phát triển, quản lý và giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng trong nền kinh tế.

Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tạo cơ sở nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng. Phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường nội địa, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Hoàn thiện mô hình các tổ chức tài chính khác hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Tăng cường ứng dụng, phát triển khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của ngành Ngân hàng. Tăng cường hợp tác quốc tế và đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng thời tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác truyền thông của NHNN.

Theo đó, Chiến lược được phân chia ra ba giai đoạn để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nói trên: giai đoạn 2018 - 2020; giai đoạn 2021 - 2025 và giai đoạn 2026 - 2030. Đồng thời sẽ có một số các dự án, chiến lược bộ phận, đề án quan trọng cần triển khai ứng với mỗi giai đoạn cụ thể. Chương trình hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược cũng sẽ chi tiết phân công nhiệm vụ và thời hạn hoàn thành để thực hiện từng nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra.

Từ những thành công cũng như hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước, Chính phủ giao cho ngành Ngân hàng thời gian qua, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác xây dựng Chiến lược, thưa Phó Thống đốc?

Từ thực tiễn triển khai thực hiện các nhiệm vụ của ngành Ngân hàng trong giai đoạn 10 năm vừa qua, NHNN đã rút ra những bài học kinh nghiệm cơ bản làm tiền đề xây dựng Chiến lược. Đó là, cần kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn, theo đó chính sách tiền tệ phải kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát. Phương thức điều hành phải chủ động, linh hoạt; coi trọng yếu tố ổn định, lành mạnh, bền vững trong hoạt động ngân hàng; tránh tình trạng phát triển nóng theo phong trào, phát triển theo chiều rộng mà không chú trọng tới chất lượng hoạt động, phát triển thiếu bền vững. Chúng ta cần tôn trọng nguyên tắc thị trường trong quản lý, điều hành và sử dụng các công cụ chính sách, bảo đảm tính minh bạch và kỷ luật thị trường nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng.

Theo đó, việc sử dụng những công cụ mang tính hành chính cần tuân theo những nguyên tắc nhất định trong những hoàn cảnh đặc biệt, và phải bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình. Phải thực sự cầu thị, bám sát thực tiễn và yêu cầu của thị trường, kết hợp nghiên cứu chuyên sâu về lý luận nền tảng và kinh nghiệm quốc tế để kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định đã không còn phù hợp, nhằm thích ứng với xu thế vận động và phát triển không ngừng của thị trường tiền tệ, hoạt động ngân hàng.

Bên cạnh đó cần coi trọng yếu tố khoa học công nghệ và con người, xem đó là điều kiện then chốt để phát triển nhanh, bền vững, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển so với ngân hàng các nước khu vực và thế giới, đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của nền kinh tế. Sự đồng thuận chính trị và đồng nhất quan điểm về việc xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh là điều kiện tiên quyết của ổn định tài chính, nền tảng của ổn định kinh tế vĩ mô và là một phần quan trọng của sự phát triển bền vững kinh tế và xã hội phải được đặt lên hàng đầu. Do đó cần coi trọng công tác truyền thông, giải thích, thuyết phục và minh bạch chính sách. Mối quan hệ qua lại giữa chính sách an toàn và chính sách tiền tệ.

Theo đó, sự an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng góp phần thực hiện thành công mục tiêu của chính sách tiền tệ, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; ngược lại, việc duy trì một chính sách tiền tệT hợp lý sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả và lành mạnh.

Đây là một Chiến lược dài hạn với những mục tiêu lớn, ngành Ngân hàng cần có những sự phối hợp, hỗ trợ ra sao từ phía Chính phủ cũng như bộ, ngành liên quan, thưa Phó Thống đốc?

Chiến lược đã bao hàm tất cả các lĩnh vực của ngành Ngân hàng, từ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng đến hoạt động quản lý Nhà nước của NHNN với hàng loạt các mục tiêu và các nhóm giải pháp được đặt ra. Để có thể thực hiện một cách đầy đủ, đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện thành công các mục tiêu, cần có sự chỉ đạo, hỗ trợ từ Chính phủ cũng như sự đồng thuận, phối hợp của các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp. Theo đó, Chiến lược đã có một mục riêng quy định trách nhiệm đầu mối hoặc phối hợp của một số bộ, ngành liên quan trong việc tổ chức thực hiện, triển khai Chiến lược.

Trân trọng cảm ơn Phó Thống đốc!

Thuận An thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.637 22.857 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.655 22.867 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200