Chính sách tiền tệ - Điểm tựa vững chắc, thúc đẩy tăng trưởng

Hỗ trợ nền kinh tế vượt cơn gió ngược
Một đặc điểm quan trọng chi phối công tác điều hành của NHNN là hệ thống ngân hàng đóng vai trò là kênh cung ứng vốn chủ yếu của nền kinh tế. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho công tác điều hành CSTT của NHNN khi phải cân đối hài hòa các nhiệm vụ, mục tiêu đan xen: vừa điều hành CSTT hướng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô theo luật định, vừa thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hỗ trợ tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Nhận thức rõ những khó khăn, thách thức, NHNN luôn kiên định mục tiêu xuyên suốt “ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng bền vững”.
Song song với đó, NHNN luôn thể hiện sự linh hoạt trong điều hành CSTT, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ trong nước và quốc tế, chủ động phân tích, dự báo, cân nhắc xây dựng các kịch bản, phương án điều hành linh hoạt trong từng giai đoạn. Theo đó, NHNN đã điều hành đồng bộ các công cụ, giải pháp CSTT đúng thời điểm và với liều lượng hợp lý, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, phản ứng nhanh nhạy, phù hợp với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước.
Sự chủ động, linh hoạt trong điều hành CSTT của NHNN càng được thể hiện rõ nét trong những năm gần đây. Giai đoạn 2011 - 2015 là một dấu mốc đặc biệt trong điều hành CSTT, khi ngay từ đầu giai đoạn nền kinh tế đã phải đối mặt đồng thời với lạm phát cao, lãi suất tăng mạnh, thanh khoản hệ thống tổ chức tín dụng căng thẳng, tỷ giá và thị trường ngoại hối nhiều biến động, trong khi tình trạng vàng hóa, đô la hóa và chất lượng tín dụng thấp bộc lộ rõ những rủi ro đối với ổn định vĩ mô.
Trước tình hình đó, NHNN đã sử dụng đồng bộ, quyết liệt các công cụ CSTT để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đi đôi với kiên quyết thiết lập kỷ luật thị trường nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các giải pháp điều hành. Theo đó, hàng loạt chính sách, giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ đã được thực thi như: tăng lãi suất điều hành; quy định trần lãi suất huy động, lãi suất cho vay; hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng bằng các nghiệp vụ tái cấp vốn, chiết khấu giấy tờ có giá...; điều chỉnh linh hoạt tỷ giá, thực hiện các biện pháp mua, bán ngoại tệ can thiệp thị trường khi cần thiết; kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống, nâng cao chất lượng, hiệu quả đồng vốn tín dụng ngân hàng…
Điểm nổi bật trong giai đoạn này là CSTT không chỉ tập trung kiềm chế lạm phát mà còn linh hoạt thực hiện giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh. Điều này thể hiện thông qua việc: khi áp lực lạm phát đã được kiểm soát, NHNN nhanh chóng điều chỉnh giảm lãi suất phù hợp, quy định mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực, ngành kinh tế trọng điểm (như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) thấp hơn khoảng 2-3% so với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường, phù hợp với chủ trương, định hướng của Chính phủ. Đồng thời, tín dụng trong giai đoạn này cũng được hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên bằng nhiều chương trình, giải pháp thiết thực, mạnh mẽ đã giúp khơi thông, nâng cao chất lượng dòng vốn tín dụng, qua đó góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Nhờ sự điều hành đồng bộ, giai đoạn 2011 - 2015 đã ghi nhận chuyển biến rõ nét: lạm phát giảm mạnh, mặt bằng lãi suất giảm sâu, thị trường tiền tệ và ngoại hối dần ổn định, niềm tin vào đồng Việt Nam được củng cố, tín dụng tăng trưởng hợp lý hơn và tập trung nhiều hơn cho khu vực sản xuất. Cụ thể, dư nợ tín dụng đối với 5 lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp - nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ và công nghệ cao tăng mạnh, như tín dụng đối với nông nghiệp - nông thôn tăng bình quân khoảng 13%/năm trong giai đoạn này... Trong khi lạm phát đã giảm mạnh từ mức trên 18% năm 2011 xuống dưới 1% vào năm 2015, trong khi tăng trưởng kinh tế dần phục hồi, đạt mức gần 7% trong năm 2015 (bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt khoảng 6,2%/năm).
Đặc biệt, giai đoạn 2016 - 2025, khi kinh tế thế giới và trong nước liên tục đối mặt với nhiều biến động mạnh với nhiều “cơn gió ngược” từ căng thẳng thương mại, chính sách quốc tế khó lường đến cú sốc chưa từng có của đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị, chính sách thuế quan của Mỹ, xu hướng bảo hộ thương mại đến lạm phát toàn cầu gia tăng và chu kỳ thắt chặt tiền tệ của các NHTW lớn. Với độ mở cao, nền kinh tế Việt Nam chịu tác động rõ nét từ đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động dòng vốn, áp lực lạm phát nhập khẩu và những bất ổn của thị trường tài chính quốc tế, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác điều hành CSTT.
Trong bối cảnh đó, NHNN Việt Nam tiếp tục điều hành CSTT theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Trọng tâm trong điều hành CSTT không chỉ dừng ở kiểm soát lạm phát, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng, mà còn hướng tới ổn định thị trường tiền tệ và củng cố an toàn hệ thống ngân hàng.
Điểm nhấn rõ nét của giai đoạn này là mặt bằng lãi suất được điều hành giảm dần và duy trì ở mức hợp lý, qua đó góp phần giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Chẳng hạn, năm 2020, trước tác động của đại dịch Covid-19, NHNN đã chủ động điều chỉnh giảm mạnh các mức lãi suất điều hành với quy mô lớn, phát đi tín hiệu rõ ràng về định hướng hỗ trợ thanh khoản và đồng hành cùng nền kinh tế.
Tương tự, năm 2023, trong khi mặt bằng lãi suất toàn cầu ở mức cao, Việt Nam đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, góp phần giảm chi phí vốn cho nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì ở mức hợp lý trong năm 2025, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi sản xuất, kinh doanh.
Cùng với đó, tỷ giá và thị trường ngoại hối được điều hành linh hoạt hơn, bám sát diễn biến thị trường trong và ngoài nước. Cơ chế tỷ giá trung tâm được vận hành hiệu quả, kết hợp đồng bộ với các công cụ điều tiết tiền tệ, và thực hiện can thiệp thị trường khi cần thiết đã góp phần hấp thu các cú sốc, thị trường ngoại tệ cơ bản ổn định ngay cả trong những thời điểm biến động mạnh. Niềm tin vào đồng Việt Nam tiếp tục được củng cố, tạo nền tảng quan trọng cho ổn định vĩ mô.
Trong điều hành tín dụng, NHNN kiên trì định hướng tăng trưởng hợp lý, gắn với nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kiểm soát chặt các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Nhờ đó, tín dụng không chỉ hỗ trợ tăng trưởng mà còn hạn chế được nguy cơ tích tụ rủi ro trong hệ thống.
Đối với thị trường vàng, việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng quản lý chặt chẽ nhưng linh hoạt hơn đã góp phần thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới, ổn định tâm lý thị trường và hạn chế xu hướng “vàng hóa” nền kinh tế.
Việc điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ CSTT đã phát huy hiệu quả tích cực hỗ trợ nền kinh tế vượt qua khó khăn và hóa giải những áp lực từ các cú sốc bên ngoài, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an toàn hệ thống TCTD. Qua đó giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới; là số ít nước trên thế giới kiểm soát được lạm phát ổn định liên tục trong giai đoạn 2021-2025, với lạm phát bình quân hàng năm trong khoảng 1,84-3,63%, phù hợp với mục tiêu đặt ra hàng năm và thấp hơn đáng kể so với lạm phát toàn cầu giai đoạn này khi lạm phát nhiều nước trên thế giới tăng kỷ lục.
Công tác điều hành CSTT của NHNN đã được các tổ chức quốc tế như IMF, WB ghi nhận và đánh giá cao. Đây cũng là một trong những cơ sở quan trọng để các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế nâng hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam.
Song song với đó, quá trình tái cơ cấu hệ thống các TCTD tiếp tục được đẩy mạnh, gắn với xử lý nợ xấu và nâng cao năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế. Hệ thống ngân hàng từng bước được củng cố, hoạt động an toàn hơn, minh bạch hơn và có khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc. Đáng chú ý, giai đoạn này cũng ghi nhận bước phát triển mạnh mẽ của thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng. Hạ tầng thanh toán được nâng cấp, dịch vụ số phát triển nhanh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân, doanh nghiệp…
Nhìn lại chặng đường qua, mặc dù nền kinh tế liên tục đối mặt với nhiều biến động và cú sốc lớn, song CSTT đã khẳng định rõ vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng. Không chỉ giữ vững ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, công tác điều hành còn góp phần nâng cao năng lực chống chịu của hệ thống ngân hàng, tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo với yêu cầu ngày càng cao.

Khẳng định vai trò trong chặng đường phát triển mới
Năm 2026 - năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được xác định là mốc khởi đầu cho chu kỳ phát triển mới của nền kinh tế. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác lập tầm nhìn xuyên suốt: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững; nâng cao toàn diện đời sống nhân dân, đồng thời bảo đảm tự chủ chiến lược và củng cố vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, các chỉ tiêu kinh tế được đặt ở mức cao, thể hiện quyết tâm chính trị rõ rệt. Tăng trưởng kinh tế GDP bình quân phấn đấu đạt từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD…
Thế nhưng nền kinh tế bước sang năm 2026 tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức mới khi bất ổn địa chính trị, xung đột vũ trang lan rộng, đặc biệt là chiến sự tại Trung Đông đẩy giá năng lượng tăng cao, một mặt tạo áp lực lớn lên lạm phát, mặt khác lại cản trở đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Nhiều NHTW lớn trên thế giới vì thế đã phải dừng nới lỏng tiền tệ, thậm chí có thể quay sang thắt chặt, tăng lãi suất để ứng phó với lạm phát.
Là một nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam cũng chịu tác động không nhỏ. Tất cả những điều đó đang tạo áp lực lớn lên công tác điều hành CSTT, tỷ giá của NHNN.
Trong bối cảnh đó, xác định giữ vai trò then chốt, vừa là công cụ ổn định vĩ mô, vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng đạt mục tiêu “hai con số” trong năm 2026 cũng như cả giai đoạn 2026 - 2030, NHNN tiếp tục điều hành CSTT theo hướng hiện đại, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Cụ thể, NHNN bám sát diễn biến, tình hình kinh tế thế giới và trong nước để điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Việc điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu CSTT. Cùng với đó, các giải pháp tín dụng được triển khai theo hướng linh hoạt, gắn với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được định hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; đồng thời triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Việc phối hợp với các bộ, ngành và địa phương cũng được tăng cường nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.
Cùng với điều hành chính sách, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng được xác định là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả điều hành và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Các quy định pháp lý được rà soát, sửa đổi, bổ sung theo hướng đồng bộ, bám sát thực tiễn và tiệm cận thông lệ quốc tế, qua đó vừa tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng hoạt động hiệu quả, vừa nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.
Nhìn lại chặng đường 75 năm xây dựng và phát triển, có thể khẳng định NHNN Việt Nam đã từng bước trưởng thành, không ngừng hoàn thiện năng lực hoạch định và điều hành CSTT, qua đó góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, việc giữ vững nền tảng vĩ mô ổn định là điều kiện tiên quyết để nền kinh tế ứng phó linh hoạt với bối cảnh vĩ mô biến động, phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhằm phát triển tăng tốc, đột phá trong kỷ nguyên mới. Trọng trách này dựa trên vai trò trụ cột của CSTT gắn với sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách kinh tế vĩ mô để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Với nền tảng đã được tạo dựng và quyết tâm đổi mới mạnh mẽ, ngành Ngân hàng Việt Nam có đủ cơ sở để tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới, đồng hành cùng đất nước trên con đường phát triển nhanh và bền vững, hướng tới mục tiêu trở thành nền kinh tế phát triển có thu nhập cao trong những thập niên tới.
Tin liên quan
Tin khác
Vẻ vang chặng đường lịch sử 75 năm của ngành Ngân hàng
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Đồng hành cùng sự phát triển của ngành Ngân hàng
NHNN chi nhánh Khu vực 9: Thúc đẩy chuyển đổi số và cải cách hành chính
Cải cách sâu rộng để đảm bảo tăng trưởng cao và chất lượng
Dòng vốn Agribank trong hành trình phát triển của đất nước
Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào: NHNN đã khẳng định năng lực điều hành chính sách tiền tệ
Tạo dựng hệ thống ngân hàng đủ mạnh trong giai đoạn mới
Gia cố sức mạnh mềm xây dựng Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc
Phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại, phụng sự nhân dân


