Chỉ số kinh tế:
Ngày 22/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.640 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.408/26.872 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Chính sách tiền tệ - Điểm tựa vững chắc, thúc đẩy tăng trưởng

Trải qua 75 năm xây dựng và phát triển, NHNN Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, khẳng định vai trò là cơ quan hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) quốc gia, góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. Trong suốt tiến trình đó, đặc biệt trong những giai đoạn nhiều biến động của kinh tế khu vực và toàn cầu, việc điều hành CSTT của NHNN luôn thể hiện rõ bản lĩnh, sự chủ động, linh hoạt và năng lực điều hành ngày càng hiện đại, tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
aa

Hỗ trợ nền kinh tế vượt cơn gió ngược

Một đặc điểm quan trọng chi phối công tác điều hành của NHNN là hệ thống ngân hàng đóng vai trò là kênh cung ứng vốn chủ yếu của nền kinh tế. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho công tác điều hành CSTT của NHNN khi phải cân đối hài hòa các nhiệm vụ, mục tiêu đan xen: vừa điều hành CSTT hướng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô theo luật định, vừa thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hỗ trợ tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Nhận thức rõ những khó khăn, thách thức, NHNN luôn kiên định mục tiêu xuyên suốt “ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng bền vững”.

Song song với đó, NHNN luôn thể hiện sự linh hoạt trong điều hành CSTT, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ trong nước và quốc tế, chủ động phân tích, dự báo, cân nhắc xây dựng các kịch bản, phương án điều hành linh hoạt trong từng giai đoạn. Theo đó, NHNN đã điều hành đồng bộ các công cụ, giải pháp CSTT đúng thời điểm và với liều lượng hợp lý, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, phản ứng nhanh nhạy, phù hợp với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước.

Sự chủ động, linh hoạt trong điều hành CSTT của NHNN càng được thể hiện rõ nét trong những năm gần đây. Giai đoạn 2011 - 2015 là một dấu mốc đặc biệt trong điều hành CSTT, khi ngay từ đầu giai đoạn nền kinh tế đã phải đối mặt đồng thời với lạm phát cao, lãi suất tăng mạnh, thanh khoản hệ thống tổ chức tín dụng căng thẳng, tỷ giá và thị trường ngoại hối nhiều biến động, trong khi tình trạng vàng hóa, đô la hóa và chất lượng tín dụng thấp bộc lộ rõ những rủi ro đối với ổn định vĩ mô.

Trước tình hình đó, NHNN đã sử dụng đồng bộ, quyết liệt các công cụ CSTT để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đi đôi với kiên quyết thiết lập kỷ luật thị trường nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các giải pháp điều hành. Theo đó, hàng loạt chính sách, giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ đã được thực thi như: tăng lãi suất điều hành; quy định trần lãi suất huy động, lãi suất cho vay; hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng bằng các nghiệp vụ tái cấp vốn, chiết khấu giấy tờ có giá...; điều chỉnh linh hoạt tỷ giá, thực hiện các biện pháp mua, bán ngoại tệ can thiệp thị trường khi cần thiết; kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống, nâng cao chất lượng, hiệu quả đồng vốn tín dụng ngân hàng…

Điểm nổi bật trong giai đoạn này là CSTT không chỉ tập trung kiềm chế lạm phát mà còn linh hoạt thực hiện giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh. Điều này thể hiện thông qua việc: khi áp lực lạm phát đã được kiểm soát, NHNN nhanh chóng điều chỉnh giảm lãi suất phù hợp, quy định mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực, ngành kinh tế trọng điểm (như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) thấp hơn khoảng 2-3% so với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường, phù hợp với chủ trương, định hướng của Chính phủ. Đồng thời, tín dụng trong giai đoạn này cũng được hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên bằng nhiều chương trình, giải pháp thiết thực, mạnh mẽ đã giúp khơi thông, nâng cao chất lượng dòng vốn tín dụng, qua đó góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Nhờ sự điều hành đồng bộ, giai đoạn 2011 - 2015 đã ghi nhận chuyển biến rõ nét: lạm phát giảm mạnh, mặt bằng lãi suất giảm sâu, thị trường tiền tệ và ngoại hối dần ổn định, niềm tin vào đồng Việt Nam được củng cố, tín dụng tăng trưởng hợp lý hơn và tập trung nhiều hơn cho khu vực sản xuất. Cụ thể, dư nợ tín dụng đối với 5 lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp - nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ và công nghệ cao tăng mạnh, như tín dụng đối với nông nghiệp - nông thôn tăng bình quân khoảng 13%/năm trong giai đoạn này... Trong khi lạm phát đã giảm mạnh từ mức trên 18% năm 2011 xuống dưới 1% vào năm 2015, trong khi tăng trưởng kinh tế dần phục hồi, đạt mức gần 7% trong năm 2015 (bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt khoảng 6,2%/năm).

Đặc biệt, giai đoạn 2016 - 2025, khi kinh tế thế giới và trong nước liên tục đối mặt với nhiều biến động mạnh với nhiều “cơn gió ngược” từ căng thẳng thương mại, chính sách quốc tế khó lường đến cú sốc chưa từng có của đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị, chính sách thuế quan của Mỹ, xu hướng bảo hộ thương mại đến lạm phát toàn cầu gia tăng và chu kỳ thắt chặt tiền tệ của các NHTW lớn. Với độ mở cao, nền kinh tế Việt Nam chịu tác động rõ nét từ đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động dòng vốn, áp lực lạm phát nhập khẩu và những bất ổn của thị trường tài chính quốc tế, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác điều hành CSTT.

Trong bối cảnh đó, NHNN Việt Nam tiếp tục điều hành CSTT theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Trọng tâm trong điều hành CSTT không chỉ dừng ở kiểm soát lạm phát, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng, mà còn hướng tới ổn định thị trường tiền tệ và củng cố an toàn hệ thống ngân hàng.

Điểm nhấn rõ nét của giai đoạn này là mặt bằng lãi suất được điều hành giảm dần và duy trì ở mức hợp lý, qua đó góp phần giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Chẳng hạn, năm 2020, trước tác động của đại dịch Covid-19, NHNN đã chủ động điều chỉnh giảm mạnh các mức lãi suất điều hành với quy mô lớn, phát đi tín hiệu rõ ràng về định hướng hỗ trợ thanh khoản và đồng hành cùng nền kinh tế.

Tương tự, năm 2023, trong khi mặt bằng lãi suất toàn cầu ở mức cao, Việt Nam đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, góp phần giảm chi phí vốn cho nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì ở mức hợp lý trong năm 2025, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi sản xuất, kinh doanh.

Cùng với đó, tỷ giá và thị trường ngoại hối được điều hành linh hoạt hơn, bám sát diễn biến thị trường trong và ngoài nước. Cơ chế tỷ giá trung tâm được vận hành hiệu quả, kết hợp đồng bộ với các công cụ điều tiết tiền tệ, và thực hiện can thiệp thị trường khi cần thiết đã góp phần hấp thu các cú sốc, thị trường ngoại tệ cơ bản ổn định ngay cả trong những thời điểm biến động mạnh. Niềm tin vào đồng Việt Nam tiếp tục được củng cố, tạo nền tảng quan trọng cho ổn định vĩ mô.

Trong điều hành tín dụng, NHNN kiên trì định hướng tăng trưởng hợp lý, gắn với nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kiểm soát chặt các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Nhờ đó, tín dụng không chỉ hỗ trợ tăng trưởng mà còn hạn chế được nguy cơ tích tụ rủi ro trong hệ thống.

Đối với thị trường vàng, việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng quản lý chặt chẽ nhưng linh hoạt hơn đã góp phần thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới, ổn định tâm lý thị trường và hạn chế xu hướng “vàng hóa” nền kinh tế.

Việc điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ CSTT đã phát huy hiệu quả tích cực hỗ trợ nền kinh tế vượt qua khó khăn và hóa giải những áp lực từ các cú sốc bên ngoài, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an toàn hệ thống TCTD. Qua đó giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới; là số ít nước trên thế giới kiểm soát được lạm phát ổn định liên tục trong giai đoạn 2021-2025, với lạm phát bình quân hàng năm trong khoảng 1,84-3,63%, phù hợp với mục tiêu đặt ra hàng năm và thấp hơn đáng kể so với lạm phát toàn cầu giai đoạn này khi lạm phát nhiều nước trên thế giới tăng kỷ lục.

Công tác điều hành CSTT của NHNN đã được các tổ chức quốc tế như IMF, WB ghi nhận và đánh giá cao. Đây cũng là một trong những cơ sở quan trọng để các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế nâng hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam.

Song song với đó, quá trình tái cơ cấu hệ thống các TCTD tiếp tục được đẩy mạnh, gắn với xử lý nợ xấu và nâng cao năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế. Hệ thống ngân hàng từng bước được củng cố, hoạt động an toàn hơn, minh bạch hơn và có khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc. Đáng chú ý, giai đoạn này cũng ghi nhận bước phát triển mạnh mẽ của thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng. Hạ tầng thanh toán được nâng cấp, dịch vụ số phát triển nhanh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân, doanh nghiệp…

Nhìn lại chặng đường qua, mặc dù nền kinh tế liên tục đối mặt với nhiều biến động và cú sốc lớn, song CSTT đã khẳng định rõ vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng. Không chỉ giữ vững ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, công tác điều hành còn góp phần nâng cao năng lực chống chịu của hệ thống ngân hàng, tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo với yêu cầu ngày càng cao.

Khẳng định vai trò trong chặng đường phát triển mới

Năm 2026 - năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được xác định là mốc khởi đầu cho chu kỳ phát triển mới của nền kinh tế. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác lập tầm nhìn xuyên suốt: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững; nâng cao toàn diện đời sống nhân dân, đồng thời bảo đảm tự chủ chiến lược và củng cố vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Trong giai đoạn 2026 - 2030, các chỉ tiêu kinh tế được đặt ở mức cao, thể hiện quyết tâm chính trị rõ rệt. Tăng trưởng kinh tế GDP bình quân phấn đấu đạt từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD…

Thế nhưng nền kinh tế bước sang năm 2026 tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức mới khi bất ổn địa chính trị, xung đột vũ trang lan rộng, đặc biệt là chiến sự tại Trung Đông đẩy giá năng lượng tăng cao, một mặt tạo áp lực lớn lên lạm phát, mặt khác lại cản trở đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Nhiều NHTW lớn trên thế giới vì thế đã phải dừng nới lỏng tiền tệ, thậm chí có thể quay sang thắt chặt, tăng lãi suất để ứng phó với lạm phát.

Là một nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam cũng chịu tác động không nhỏ. Tất cả những điều đó đang tạo áp lực lớn lên công tác điều hành CSTT, tỷ giá của NHNN.

Trong bối cảnh đó, xác định giữ vai trò then chốt, vừa là công cụ ổn định vĩ mô, vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng đạt mục tiêu “hai con số” trong năm 2026 cũng như cả giai đoạn 2026 - 2030, NHNN tiếp tục điều hành CSTT theo hướng hiện đại, linh hoạt và hiệu quả hơn.

Cụ thể, NHNN bám sát diễn biến, tình hình kinh tế thế giới và trong nước để điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Việc điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu CSTT. Cùng với đó, các giải pháp tín dụng được triển khai theo hướng linh hoạt, gắn với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được định hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; đồng thời triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Việc phối hợp với các bộ, ngành và địa phương cũng được tăng cường nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.

Cùng với điều hành chính sách, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng được xác định là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả điều hành và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Các quy định pháp lý được rà soát, sửa đổi, bổ sung theo hướng đồng bộ, bám sát thực tiễn và tiệm cận thông lệ quốc tế, qua đó vừa tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng hoạt động hiệu quả, vừa nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.

Nhìn lại chặng đường 75 năm xây dựng và phát triển, có thể khẳng định NHNN Việt Nam đã từng bước trưởng thành, không ngừng hoàn thiện năng lực hoạch định và điều hành CSTT, qua đó góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, việc giữ vững nền tảng vĩ mô ổn định là điều kiện tiên quyết để nền kinh tế ứng phó linh hoạt với bối cảnh vĩ mô biến động, phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhằm phát triển tăng tốc, đột phá trong kỷ nguyên mới. Trọng trách này dựa trên vai trò trụ cột của CSTT gắn với sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách kinh tế vĩ mô để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Với nền tảng đã được tạo dựng và quyết tâm đổi mới mạnh mẽ, ngành Ngân hàng Việt Nam có đủ cơ sở để tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới, đồng hành cùng đất nước trên con đường phát triển nhanh và bền vững, hướng tới mục tiêu trở thành nền kinh tế phát triển có thu nhập cao trong những thập niên tới.

Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc NHNN Việt Nam

Tin liên quan

Tin khác

Vẻ vang chặng đường lịch sử 75 năm của ngành Ngân hàng

Vẻ vang chặng đường lịch sử 75 năm của ngành Ngân hàng

NHNN Việt Nam vừa bổ sung nội dung lịch sử ngành Ngân hàng giai đoạn 2021 - 2026 và tái bản cuốn sách lịch sử 75 năm ngành Ngân hàng Việt Nam dưới dạng ấn bản điện tử.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Đồng hành cùng sự phát triển của ngành Ngân hàng

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Đồng hành cùng sự phát triển của ngành Ngân hàng

Hoạt động công đoàn trong ngành Ngân hàng đã hình thành ngay từ những ngày đầu thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, sự ra đời của Công đoàn Ngân hàng Việt Nam (NHVN) vào năm 1993 là một dấu mốc mang tính bước ngoặt trong lịch sử xây dựng, phát triển và trưởng thành của ngành NHVN. Với tinh thần không ngừng đổi mới để thích ứng với bối cảnh mới, Công đoàn NHVN đã từng bước lớn mạnh, khẳng định vai trò là tổ chức đại diện tin cậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động; đồng thời đóng góp quan trọng vào sự phát triển ổn định, bền vững của toàn Ngành.
NHNN chi nhánh Khu vực 9: Thúc đẩy chuyển đổi số và cải cách hành chính

NHNN chi nhánh Khu vực 9: Thúc đẩy chuyển đổi số và cải cách hành chính

Năm 2025, với sự thay đổi lớn khi cả nước thực hiện tinh gọn bộ máy quản lý nhà nước, sáp nhập và vận hành mô hình chính quyền 2 cấp, tình hình kinh tế - xã hội của các tỉnh/thành phố khu vực miền Trung tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Trong những thành quả chung đó, sự đóng góp tích cực của ngành Ngân hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ngành Ngân hàng tại khu vực TP. Huế, Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi, NHNN chi nhánh Khu vực 9 (NHNN KV9) luôn giữ vai trò quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ, bảo đảm dòng tiền lưu thông thông suốt và ổn định hệ thống tài chính trong khu vực.
Cải cách sâu rộng  để đảm bảo tăng trưởng cao  và chất lượng

Cải cách sâu rộng để đảm bảo tăng trưởng cao và chất lượng

Trong tiến trình hội nhập và phát triển của Việt Nam, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã trở thành một trong những đối tác phát triển gắn bó và quan trọng hàng đầu. Từ những năm đầu mở cửa nền kinh tế đến giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay, sự đồng hành của ADB không chỉ thể hiện qua các nguồn vốn tài trợ mà còn ở vai trò tư vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và chia sẻ tri thức, góp phần định hình nền tảng phát triển dài hạn của nền kinh tế.
Dòng vốn Agribank trong hành trình phát triển của đất nước

Dòng vốn Agribank trong hành trình phát triển của đất nước

Nhìn lại chặng đường 75 năm phát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam, dòng vốn tín dụng luôn gắn liền với những bước chuyển mình quan trọng của nền kinh tế. Trong dòng chảy đó, Agribank được ra đời vào ngày 26/3/1988, đúng vào thời điểm đất nước bắt đầu chuyển mình mạnh mẽ sang vận hành theo cơ chế thị trường.
Giám đốc WB phụ trách  Việt Nam, Campuchia và Lào: NHNN đã khẳng định năng lực điều hành chính sách tiền tệ

Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào: NHNN đã khẳng định năng lực điều hành chính sách tiền tệ

Ngân hàng Thế giới (WB) đã đồng hành cùng quá trình phát triển của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, từ hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, thích ứng với biến đổi khí hậu đến cải cách thể chế và chia sẻ tri thức. Nhân kỷ niệm 75 năm thành lập ngành Ngân hàng, Thời báo Ngân hàng đã có cuộc phỏng vấn với bà Mariam J. Sherman, Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào.
Tạo dựng hệ thống ngân hàng  đủ mạnh trong  giai đoạn mới

Tạo dựng hệ thống ngân hàng đủ mạnh trong giai đoạn mới

Gần 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình vận hành theo cơ chế bao cấp, trở thành kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Trong giai đoạn phát triển mới, khi mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững được đặt ra, vai trò của hệ thống ngân hàng không chỉ dừng ở đảm bảo cung ứng vốn mà đang từng bước chuyển sang định hướng và dẫn dắt dòng chảy vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước.
Gia cố sức mạnh mềm xây dựng Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc

Gia cố sức mạnh mềm xây dựng Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc

“Văn hóa phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao, đảm bảo đồng bộ, tương hỗ với các chính sách, giải pháp đột phá về phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số”. Tinh thần mới của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã dần hiện hữu trong từng hoạt động của ngành Ngân hàng. Đặc biệt, Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW (Quyết định số 436/QĐ-NHNN), NHNN sẽ hội tụ toàn Ngành góp sức phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng vững chắc và sức mạnh nội sinh của Ngành và dân tộc.
Phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại, phụng sự nhân dân

Phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại, phụng sự nhân dân

Cải cách hành chính (CCHC) không phải là vấn đề mới trong hành trình phát triển của NHNN Việt Nam. Tuy nhiên, việc triển khai Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 theo Quyết định số 30/QĐ-TTg của Chính phủ và sau này là các chương trình CCHC tổng thể đã tạo ra bước chuyển quan trọng, mang đến làn gió mới cho CCHC. Cải cách không chỉ dừng ở việc tinh gọn bộ máy hay cắt giảm thủ tục, mà còn là sự thay đổi về tư duy từ "quản lý" sang "phục vụ". Sự chuyển đổi này đã kết nối toàn hệ thống ngân hàng thành một thể thống nhất, thông suốt từ điều hành chính sách tiền tệ đến cung ứng dịch vụ, góp phần cùng Chính phủ kiến tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi, minh bạch, đồng thời làm đậm thêm tính nhân văn, ưu việt trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa, “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Mở lối cho kinh tế tư nhân

Mở lối cho kinh tế tư nhân

Từ những khoản vay khởi nghiệp đến các gói tín dụng hàng trăm nghìn tỷ đồng, ngành Ngân hàng đang đóng vai trò “bệ đỡ” quan trọng đưa Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đi vào cuộc sống, tiếp thêm niềm tin và động lực cho khu vực kinh tế tư nhân vươn lên mạnh mẽ.