Chỉ số kinh tế:
Ngày 8/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.603 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.381/ 26.841 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào: NHNN đã khẳng định năng lực điều hành chính sách tiền tệ

Đỗ Phạm thực hiện
Đỗ Phạm thực hiện  - 
Ngân hàng Thế giới (WB) đã đồng hành cùng quá trình phát triển của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, từ hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, thích ứng với biến đổi khí hậu đến cải cách thể chế và chia sẻ tri thức. Nhân kỷ niệm 75 năm thành lập ngành Ngân hàng, Thời báo Ngân hàng đã có cuộc phỏng vấn với bà Mariam J. Sherman, Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào.
aa

Tăng trưởng cao nhưng chưa bền vững: Áp lực tháo gỡ điểm nghẽn để đạt mục tiêu hai con số Tăng trưởng cao và yêu cầu chuyển đổi mô hình Lượng hóa cải cách, khơi thông nguồn lực để tăng trưởng cao

Giám đốc WB phụ trách  Việt Nam, Campuchia và Lào: NHNN đã khẳng định năng lực điều hành chính sách tiền tệ
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào

Bà đánh giá như thế nào về đóng góp của ngành Ngân hàng đối với quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế Việt Nam?

Nhìn lại 75 năm hình thành và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam là một trong những câu chuyện chuyển đổi thể chế ấn tượng nhất trong lịch sử các nền kinh tế đang phát triển.

Trước Đổi mới năm 1986, hệ thống ngân hàng vận hành như một công cụ kế hoạch hóa tập trung: Tín dụng phân bổ theo mệnh lệnh hành chính, không có lãi suất thị trường, không có khái niệm rủi ro tín dụng và hoàn toàn vắng bóng ngân hàng tư nhân.

Bước ngoặt đến vào cuối thập niên 1980, khi Việt Nam chuyển sang mô hình ngân hàng hai cấp với các cải cách tạo nền tảng để huy động tiết kiệm dân cư, tài trợ khu vực tư nhân và điều hành chính sách tiền tệ, góp phần duy trì tăng trưởng GDP bình quân 6 - 7%/năm suốt nhiều thập kỷ.

Thành tựu ngành đạt được rất ấn tượng: Tổng tài sản của hệ thống ngân hàng đã tiến gần đến 1,15 nghìn tỷ USD vào năm 2026, gấp gần 2.000 lần so với bốn thập kỷ trước và tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản thanh toán chính thức đã tăng từ dưới 30% năm 2015 lên hơn 87% năm 2024.

WB là một trong những định chế tài chính quốc tế có mặt sớm và tham gia hỗ trợ rất lớn cho Việt Nam sau Đổi mới, bà có thể điểm lại một vài kết quả hợp tác chính giữa hai bên?

Từ năm 1993 đến nay, WB đã cam kết hơn 26 tỷ USD cho Việt Nam qua hơn 214 khoản vay và chương trình hỗ trợ kỹ thuật, trong đó hợp tác với NHNN luôn giữ vị trí trọng tâm.

Hai dự án nền tảng nhất là PSBM1 và PSBM2 (Hiện đại hóa Hệ thống Thanh toán và Ngân hàng), tài trợ qua tín dụng IDA. Trước đó, một giao dịch liên ngân hàng có thể mất đến hai tuần; nay diễn ra theo thời gian thực, tạo nền tảng cho hàng triệu người dùng dịch vụ ngân hàng di động và thanh toán điện tử.

Dự án Hiện đại hóa khu vực Tài chính và hệ thống Quản lý Thông tin (FSMIMS) đồng thời nâng cao năng lực cho ba tổ chức: NHNN, Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) và Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam (DIV). Kết quả: 34 quy trình nghiệp vụ cốt lõi được triển khai, 75 văn bản pháp luật được ban hành hoặc sửa đổi, 7 hệ thống CNTT tích hợp theo chuẩn quốc tế, hơn 10.600 cán bộ được đào tạo, phục vụ 123 TCTD và gần 1.200 Quỹ Tín dụng nhân dân trên cả nước.

Chiến lược Tài chính Toàn diện Quốc gia (NFIS) của Việt Nam cũng là thành quả từ sự hợp tác này. Lần đầu tiên Việt Nam có một lộ trình nhất quán để mở rộng tiếp cận tài chính, góp phần đưa tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng lên mức ấn tượng như hiện nay.

Về ổn định tài chính, WB đồng hành cùng NHNN trong quá trình nâng cao năng lực thanh tra, giám sát và xử lý nợ xấu cho Cơ quan thanh tra giám sát, hỗ trợ kỹ thuật cho Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC), đưa các nội dung cốt lõi của Nghị quyết 42/2017 của Quốc hội vào Luật Các TCTD.

Các chương trình hỗ trợ kỹ thuật có nguồn hỗ trợ không hoàn lại từ Quỹ Tín thác ASEM, Quỹ Tín thác Hàn Quốc, Khung Hỗ trợ Tài chính Toàn diện (FISF) và gần đây nhất là Chương trình Ổn định và Phát triển Khu vực Ngân hàng do Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ tài trợ qua WB.

Giám đốc WB phụ trách  Việt Nam, Campuchia và Lào: NHNN đã khẳng định năng lực điều hành chính sách tiền tệ
Một trong số các công trình thủy lợi xây dựng tại các tỉnh ĐSBSCL trong khuôn khổ Dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL (Dự án WB9) do WB tài trợ. Với tổng mức đầu tư trên 8.500 tỷ đồng, Dự án WB9 đã góp phần làm thay đổi cuộc sống, khả năng chống chịu và sinh kế bền vững cho gần 2 triệu người dân vùng ĐBSCL.

Xin bà cho biết một vài đánh giá về điều hành chính sách tiền tệ trong thực hiện mục tiêu duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát gắn với hỗ trợ tăng trưởng?

Hai thập kỷ điều hành chính sách tiền tệ cho thấy NHNN đã trưởng thành vượt bậc cả về năng lực lẫn sự vững vàng. Ba giai đoạn điển hình minh chứng cho điều này.

Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008: Khi lạm phát tại Việt Nam vọt lên gần 23%, NHNN phản ứng quyết đoán bằng việc nâng lãi suất cơ bản ba lần lên 14%, rồi điều chỉnh dần với sáu lần cắt giảm liên tiếp từ tháng 10/2008 đến tháng 1/2009 khi áp lực hạ nhiệt. GDP phục hồi lên 7,7% trong quý IV/2009, hệ thống ngân hàng vẫn nguyên vẹn, đây là một kết quả không dễ gì đạt được trước những áp lực lúc đó.

Đại dịch Covid-19: NHNN triển khai đồng bộ nhiều công cụ như cắt giảm lãi suất ba lần với tổng mức giảm 150-200 điểm cơ bản, hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc để bơm thanh khoản và ban hành Thông tư 01/2020 cho phép cơ cấu lại nợ mà không tự động hạ bậc phân loại, giúp duy trì dòng tín dụng mà không gây ảnh hưởng quá lớn đến bảng cân đối tài chính của các ngân hàng. Kết quả là: Lạm phát chỉ ở mức 1,84% năm 2021, kinh tế vẫn tăng trưởng khi nhiều nước khác đối mặt với tình trạng suy giảm.

Hậu đại dịch (giai đoạn 2022-2025), đối mặt với chu kỳ thắt chặt mạnh nhất của Fed trong bốn thập kỷ, NHNN ứng phó linh hoạt: Tăng biên độ tỷ giá để hấp thụ cú sốc bên ngoài, đồng thời thận trọng điều chỉnh lãi suất và trần tín dụng để cân bằng tăng trưởng với kiểm soát lạm phát. Đồng VND chỉ mất giá khoảng 3,5% năm 2022 - tương đối ổn định so với khu vực - trong khi lạm phát vẫn trong mục tiêu 4,5%.

Nhìn tổng thể, đây là công tác điều hành nhất quán và linh hoạt, từ điều chỉnh lãi suất đến phối hợp đồng bộ giữa quản lý thanh khoản, định hướng tín dụng, chính sách tỷ giá và các biện pháp điều tiết. WB ghi nhận năng lực của NHNN trong việc vượt qua những giai đoạn phức tạp trong khi vẫn kiểm soát lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế.

Theo bà, những điểm mạnh và những yếu tố nào cần tiếp tục cải thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài?

Hệ thống ngân hàng đã chuyển đổi số mạnh mẽ trong những năm gần đây. Đến năm 2024, giao dịch kỹ thuật số chiếm tới 98% tổng giao dịch tại một số ngân hàng lớn và giá trị thanh toán qua di động tăng hơn gấp đôi so với năm 2021. Về chuẩn mực an toàn, hơn 20 ngân hàng đã đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu theo Basel II vào năm 2022 và một thông tư mới ban hành năm 2025 đánh dấu bước tiến tiếp theo hướng tới Basel III. Việc thực hiện chuyển giao bắt buộc với một số ngân hàng cho thấy NHNN đã sẵn sàng và đủ năng lực xử lý các TCTD yếu kém.

Tuy nhiên, một số thách thức cơ cấu vẫn còn. Hệ thống đang đối mặt với khoảng trống an toàn vốn ước tính 10,7 tỷ USD, phần lớn tập trung ở các ngân hàng thương mại nhà nước. Quản trị và minh bạch cũng là lĩnh vực cần tiếp tục củng cố. Về dài hạn, sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng do thị trường vốn chưa đủ phát triển khiến rủi ro tài chính dồn vào một đầu mối, điều mà riêng các quy định pháp luật không thể giải quyết triệt để.

Giai đoạn 2026-2030, theo bà ngành Ngân hàng và công tác điều hành chính sách tiền tệ sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn nào?

Nhìn về phía trước, ngành Ngân hàng đối mặt với bốn thách thức đáng quan tâm. Trong đó, cân bằng giữa tăng trưởng và ổn định là thách thức cấp bách nhất. Tín dụng ngân hàng đã ở mức cao so với chuẩn khu vực. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào cho vay ngân hàng để thúc đẩy tăng trưởng, nguy cơ đẩy giá tài sản lên cao, làm xấu chất lượng tín dụng và bào mòn bộ đệm vốn là hoàn toàn hiện hữu.

Bên cạnh đó, rủi ro thuế quan từ Hoa Kỳ là mối lo trước mắt. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm khoảng 30% GDP, nên bất kỳ sự sụt giảm kéo dài nào trong nhu cầu nhập khẩu của Mỹ đều sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng tín dụng toàn hệ thống. Trong bối cảnh bất định địa chính trị ngày càng tăng, nâng cao tính linh hoạt và năng lực quản lý rủi ro trở thành ưu tiên không thể trì hoãn.

Rủi ro khí hậu là thách thức ổn định tài chính ngày càng không thể xem nhẹ. Là một trong những quốc gia chịu tác động khí hậu lớn nhất thế giới, Việt Nam có thể đối mặt với thiệt hại kinh tế lên tới 523 tỷ USD vào năm 2050.

Dư địa chính sách tiền tệ đang thu hẹp dần. Với lãi suất đã ở mức thấp lịch sử, NHNN còn ít không gian để cắt giảm thêm nếu nền kinh tế gặp cú sốc lớn từ bên ngoài - điều này làm giảm đi một trong những công cụ ứng phó khủng hoảng quan trọng nhất.

Vậy bà có những khuyến nghị gì để hệ thống ngân hàng vừa góp phần duy trì ổn định vĩ mô, vừa nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và thúc đẩy tăng trưởng bền vững?

Các khuyến nghị của WB xuất phát từ đánh giá mới nhất về khu vực ngân hàng Việt Nam và kinh nghiệm cải cách tài chính tại nhiều quốc gia khác, tập trung vào sáu ưu tiên.

Một là, củng cố nền tảng pháp lý cho giám sát và xử lý. NHNN cần được trao thẩm quyền giám sát toàn bộ tập đoàn tài chính ngân hàng - không chỉ từng tổ chức đơn lẻ - nhằm xử lý hiệu quả các rủi ro liên quan đến cấp tín dụng nội bộ và giao dịch với bên có liên quan.

NHNN cũng cần được chính thức chỉ định là cơ quan xử lý với ngưỡng kích hoạt "điểm mất khả năng tồn tại" được quy định rõ ràng. Quan trọng không kém, pháp luật phải có cơ chế bảo vệ pháp lý cho cán bộ thanh tra, giám sát hành động trung thực; nếu không, cán bộ sẽ e ngại trong việc đưa ra những đánh giá chủ động - vốn là yêu cầu cốt lõi của mô hình giám sát dựa trên rủi ro.

Hai là, hoàn thiện chuyển đổi sang giám sát dựa trên rủi ro. Thay vì kiểm tra tuân thủ sau thực tế, cần đánh giá liên tục hồ sơ rủi ro và chất lượng quản trị của từng ngân hàng. Cần có hệ thống cảnh báo sớm và công cụ số để kiểm chứng mức vốn thực tế so với rủi ro, bảo đảm vốn được sử dụng hiệu quả.

Ba là, hoàn thiện bộ công cụ an toàn vĩ mô. Các trần tăng trưởng tín dụng cứng cần nhường chỗ cho công cụ linh hoạt hơn: Bộ đệm vốn nghịch chu kỳ để tăng khả năng chống chịu trong giai đoạn tín dụng bùng nổ; tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản và nợ trên thu nhập được hiệu chỉnh phù hợp với thị trường bất động sản; và một Hội đồng Ổn định Tài chính Quốc gia với nhiệm vụ rõ ràng là phối hợp quản lý rủi ro giữa ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán. Chia sẻ dữ liệu tốt hơn giữa các cơ quan là nền tảng cho tất cả những điều này.

Bốn là, đẩy nhanh xử lý nợ xấu qua cơ chế thị trường. Điều này đòi hỏi cải cách tư pháp, bao gồm việc hình thành tòa án phá sản chuyên biệt, quy trình xử lý, phát mại tài sản bảo đảm nhanh hơn. Sàn giao dịch nợ điện tử cần được vận hành đầy đủ để thu hút nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài, đồng thời nghiên cứu khả năng chứng khoán hóa nợ xấu khi hạ tầng pháp lý đã đủ điều kiện.

Năm là, phát triển thị trường vốn để giảm gánh nặng cho hệ thống ngân hàng. Với nhu cầu đầu tư hạ tầng ước tính 150 - 200 tỷ USD đến năm 2030, hệ thống ngân hàng không thể một mình gánh vác an toàn. Hoàn thiện các cải cách để đạt nâng hạng thị trường mới nổi MSCI, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch với yêu cầu xếp hạng tín dụng bắt buộc và xây dựng cơ sở nhà đầu tư tổ chức.

Sáu là, gắn chuyển đổi số vào năng lực giám sát. Cần xây dựng và triển khai khẩn trương Lộ trình SupTech của giai đoạn 2026 - 2030 bao gồm tự động hóa thu thập dữ liệu, ứng dụng AI, xây dựng tổ chức thực sự vận hành dựa trên dữ liệu. Vận hành cơ chế chi trả bảo hiểm sớm theo Luật Bảo hiểm tiền gửi sửa đổi cũng cấp thiết không kém để củng cố niềm tin công chúng trong các giai đoạn căng thẳng.

Nhân kỷ niệm 75 năm thành lập ngành Ngân hàng, WB xin gửi lời chúc mừng trân trọng đến tất cả những người đã gắn bó và cống hiến cho ngành - những người đã dành tâm huyết xây dựng một hệ thống tài chính thực sự phục vụ người dân Việt Nam.

Một hệ thống ngân hàng ổn định, hiệu quả và toàn diện - với thể chế vững mạnh, thị trường phát triển chiều sâu và giám sát lành mạnh - là nền tảng không thể thiếu cho tương lai thu nhập cao mà Việt Nam đang hướng tới. WB cam kết đồng hành trên hành trình đó: qua các khoản tài trợ giúp huy động đầu tư ở quy mô lớn, qua hỗ trợ kỹ thuật, và qua đối thoại chính sách ược xây dựng trên nền tảng hợp tác lâu dài đã có.

Xin cảm ơn bà!

Đỗ Phạm thực hiện

Tin liên quan

Tin khác

Vẻ vang chặng đường lịch sử 75 năm của ngành Ngân hàng

Vẻ vang chặng đường lịch sử 75 năm của ngành Ngân hàng

NHNN Việt Nam vừa bổ sung nội dung lịch sử ngành Ngân hàng giai đoạn 2021 - 2026 và tái bản cuốn sách lịch sử 75 năm ngành Ngân hàng Việt Nam dưới dạng ấn bản điện tử.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Đồng hành cùng sự phát triển của ngành Ngân hàng

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Đồng hành cùng sự phát triển của ngành Ngân hàng

Hoạt động công đoàn trong ngành Ngân hàng đã hình thành ngay từ những ngày đầu thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, sự ra đời của Công đoàn Ngân hàng Việt Nam (NHVN) vào năm 1993 là một dấu mốc mang tính bước ngoặt trong lịch sử xây dựng, phát triển và trưởng thành của ngành NHVN. Với tinh thần không ngừng đổi mới để thích ứng với bối cảnh mới, Công đoàn NHVN đã từng bước lớn mạnh, khẳng định vai trò là tổ chức đại diện tin cậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động; đồng thời đóng góp quan trọng vào sự phát triển ổn định, bền vững của toàn Ngành.
NHNN chi nhánh Khu vực 9: Thúc đẩy chuyển đổi số và cải cách hành chính

NHNN chi nhánh Khu vực 9: Thúc đẩy chuyển đổi số và cải cách hành chính

Năm 2025, với sự thay đổi lớn khi cả nước thực hiện tinh gọn bộ máy quản lý nhà nước, sáp nhập và vận hành mô hình chính quyền 2 cấp, tình hình kinh tế - xã hội của các tỉnh/thành phố khu vực miền Trung tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Trong những thành quả chung đó, sự đóng góp tích cực của ngành Ngân hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ngành Ngân hàng tại khu vực TP. Huế, Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi, NHNN chi nhánh Khu vực 9 (NHNN KV9) luôn giữ vai trò quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ, bảo đảm dòng tiền lưu thông thông suốt và ổn định hệ thống tài chính trong khu vực.
Cải cách sâu rộng  để đảm bảo tăng trưởng cao  và chất lượng

Cải cách sâu rộng để đảm bảo tăng trưởng cao và chất lượng

Trong tiến trình hội nhập và phát triển của Việt Nam, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã trở thành một trong những đối tác phát triển gắn bó và quan trọng hàng đầu. Từ những năm đầu mở cửa nền kinh tế đến giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay, sự đồng hành của ADB không chỉ thể hiện qua các nguồn vốn tài trợ mà còn ở vai trò tư vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và chia sẻ tri thức, góp phần định hình nền tảng phát triển dài hạn của nền kinh tế.
Dòng vốn Agribank trong hành trình phát triển của đất nước

Dòng vốn Agribank trong hành trình phát triển của đất nước

Nhìn lại chặng đường 75 năm phát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam, dòng vốn tín dụng luôn gắn liền với những bước chuyển mình quan trọng của nền kinh tế. Trong dòng chảy đó, Agribank được ra đời vào ngày 26/3/1988, đúng vào thời điểm đất nước bắt đầu chuyển mình mạnh mẽ sang vận hành theo cơ chế thị trường.
Tạo dựng hệ thống ngân hàng  đủ mạnh trong  giai đoạn mới

Tạo dựng hệ thống ngân hàng đủ mạnh trong giai đoạn mới

Gần 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình vận hành theo cơ chế bao cấp, trở thành kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Trong giai đoạn phát triển mới, khi mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững được đặt ra, vai trò của hệ thống ngân hàng không chỉ dừng ở đảm bảo cung ứng vốn mà đang từng bước chuyển sang định hướng và dẫn dắt dòng chảy vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước.
Gia cố sức mạnh mềm xây dựng Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc

Gia cố sức mạnh mềm xây dựng Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc

“Văn hóa phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao, đảm bảo đồng bộ, tương hỗ với các chính sách, giải pháp đột phá về phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số”. Tinh thần mới của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã dần hiện hữu trong từng hoạt động của ngành Ngân hàng. Đặc biệt, Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW (Quyết định số 436/QĐ-NHNN), NHNN sẽ hội tụ toàn Ngành góp sức phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng vững chắc và sức mạnh nội sinh của Ngành và dân tộc.
Phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại, phụng sự nhân dân

Phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại, phụng sự nhân dân

Cải cách hành chính (CCHC) không phải là vấn đề mới trong hành trình phát triển của NHNN Việt Nam. Tuy nhiên, việc triển khai Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 theo Quyết định số 30/QĐ-TTg của Chính phủ và sau này là các chương trình CCHC tổng thể đã tạo ra bước chuyển quan trọng, mang đến làn gió mới cho CCHC. Cải cách không chỉ dừng ở việc tinh gọn bộ máy hay cắt giảm thủ tục, mà còn là sự thay đổi về tư duy từ "quản lý" sang "phục vụ". Sự chuyển đổi này đã kết nối toàn hệ thống ngân hàng thành một thể thống nhất, thông suốt từ điều hành chính sách tiền tệ đến cung ứng dịch vụ, góp phần cùng Chính phủ kiến tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi, minh bạch, đồng thời làm đậm thêm tính nhân văn, ưu việt trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa, “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Mở lối cho kinh tế tư nhân

Mở lối cho kinh tế tư nhân

Từ những khoản vay khởi nghiệp đến các gói tín dụng hàng trăm nghìn tỷ đồng, ngành Ngân hàng đang đóng vai trò “bệ đỡ” quan trọng đưa Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đi vào cuộc sống, tiếp thêm niềm tin và động lực cho khu vực kinh tế tư nhân vươn lên mạnh mẽ.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.