Chính sách tiền tệ thận trọng để kiểm soát lạm phát

08:05 | 06/01/2022

Theo các chuyên gia, với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, sự điều hành hài hoà giữa chính sách tài khoá (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) sẽ góp phần tác động tích cực đến việc kiểm soát lạm phát trong thời gian tới. Theo đó, lạm phát trong năm 2022 của Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục được kiểm soát ở mức dưới 4%, thấp hơn mục tiêu Quốc hội đề ra.

chinh sach tien te than trong de kiem soat lam phat Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, thích ứng nhanh với tình hình mới
chinh sach tien te than trong de kiem soat lam phat Căn chỉnh chính sách tiền tệ trước áp lực lạm phát
chinh sach tien te than trong de kiem soat lam phat Thanh khoản dồi dào đã giúp ngân hàng giảm lãi suất, hỗ trợ nền kinh tế

Sức mua yếu khiến CPI tăng thấp

Phát biểu tại Hội thảo “Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2021 và dự báo 2022”, PGS.TS. Nguyễn Bá Minh - Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính thông tin, CPI bình quân năm 2021 tăng 1,84% so với bình quân năm 2020 là mức tăng bình quân năm thấp nhất trong 5 năm trở lại đây; đặc biệt lạm phát cơ bản bình quân năm 2021 tăng 0,81% so với bình quân năm 2020.

TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính lý giải, nguyên nhân chính khiến lạm phát thấp là do tổng cầu yếu, sức mua bị sụt giảm mạnh, thể hiện qua việc tăng trưởng GDP năm 2021 chỉ đạt 2,58%, trong khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 3,8% so với năm 2020 (nếu loại trừ yếu tố giá giảm 6,2%). Nói cách khác, dịch bệnh Covid-19 cùng các biện pháp giãn cách xã hội trên quy mô lớn trong năm 2021 đã khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, thu nhập và sức mua của người dân bị giảm sút, từ đó kìm hãm đà tăng của chỉ số CPI.

chinh sach tien te than trong de kiem soat lam phat
Áp lực lạm phát năm 2022 vẫn rất lớn

Phân tích cụ thể hơn, theo PGS. TS. Ngô Trí Long – chuyên gia tài chính, nhìn vào diễn biến lạm phát năm qua có thể thấy, trong 12 tháng có 5 tháng CPI giảm; 7 tháng tăng, trong đó chỉ có tháng Hai là tăng mạnh (1,52%), còn lại đều tăng rất thấp. Mức tăng hoặc giảm nhẹ trong khoảng từ 0,2 – 0,6%.

Đáng chú ý, mặc dù giá một số loại nguyên vật liệu trên thế giới tăng rất mạnh nhưng giá cả hàng hoá trong nước lại tăng chậm so với thế giới. Ông Long cho rằng do sức sản xuất, sức cầu của nền kinh tế còn yếu khiến áp lực chi phí chậm chuyển thành áp lực lạm phát. Cùng với đó là do xu hướng tăng chậm lại của cung tiền. Ngoài ra do sức cầu yếu nên dù giá đầu vào tăng khá mạnh như nêu trên, nhưng nhiều doanh nghiệp sẵn sàng giữ nguyên hoặc giảm giá để kích cầu, chấp nhận biên lợi nhuận giảm.

Lạm phát 2022 vẫn sẽ ở mức thấp?

Nhận định về tình hình lạm phát trong năm 2022, các chuyên gia đều đồng tình cho rằng, lạm phát năm nay sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp hơn mục tiêu 4% Quốc hội đề ra. Theo TS. Nguyễn Đức Độ, mặc dù kinh tế đang phục hồi, nhưng sản lượng của năm 2022 sẽ vẫn ở mức dưới tiềm năng. Nếu GDP trong năm 2022 chỉ tăng trưởng 6,5% như mục tiêu đặt ra, hay thậm chí tăng 8-9% như một số dự báo lạc quan, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của giai đoạn 2020-2022 chỉ ở mức 4-5%, thấp hơn khá nhiều so với mức 6% của giai đoạn 2011-2020.

Bên cạnh đó, đà tăng của giá xăng dầu cũng như giá của các nguyên vật liệu sẽ chững lại trong năm 2022 khi sự đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa được “nối lại”. Hơn nữa, giá các hàng hóa cơ bản còn chịu tác động từ việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt tiền tệ trong năm nay.

Theo vị chuyên gia này, áp lực lạm phát tại Việt Nam trong năm 2022, nếu có sẽ đến từ giá thịt lợn hiện nay đang ở mức thấp và có thể tăng trong tương lai khi thu nhập và nhu cầu của người dân được cải thiện. Thêm vào đó, Chính phủ có thể sẽ điều chỉnh giá một số mặt hàng như điện, nước và giá dịch vụ. Vì vậy, TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, về tổng thể áp lực lạm phát tại Việt Nam trong năm 2022 là không lớn. Nhiều khả năng lạm phát trung bình tại Việt Nam trong năm 2022 sẽ chỉ ở mức 1,3-2,3%.

Phân tích cụ thể hơn, PGS.TS. Nguyễn Bá Minh cho biết, trong năm 2022 có những nhân tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI như: Tình hình dịch bệnh Covid-19 với những biến chủng mới rất nguy hiểm, chiến tranh thương mại, xung đột chính trị trên thế giới còn nhiều bất ổn, khó lường... khiến cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể chưa hồi phục như kỳ vọng, qua đó làm cho giá cả nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới khó tăng như dự báo của các quỹ đầu tư. Bên cạnh đó, sức mua trên thị trường vẫn còn yếu do thu nhập của người dân lao động giảm... Vì vậy, ông Minh dự báo, CPI của Việt Nam bình quân năm 2022 so với năm 2021 sẽ tăng ở mức 2% - 3%.

Trái với những nhận định trên, PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng, còn nhiều áp lực hiện hữu khiến việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát năm nay sẽ không dễ dàng. Theo ông Long, nhập khẩu lạm phát được dự đoán sẽ tăng cao bởi các yếu tố như: các đối tác thương mại lớn (vốn đang có mức lạm phát cao kỷ lục) sẽ tiếp tục tăng các gói kích cầu lớn; sự phức tạp của đại dịch vẫn tiếp diễn…

Chính vì vậy, trong điều hành chính sách tiền tệ cần phải có những kịch bản cần thiết theo hướng thắt chặt, nhất là cho mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4%. Đặc biệt, khi các gói kích cầu lớn được Quốc hội, Chính phủ thông qua và cho triển khai thì càng phải cẩn trọng. Bởi với quy mô rất lớn, nếu thực hiện cấp bù lãi suất sẽ kéo theo một lượng tín dụng "khủng" ra thị trường, trong khi tỷ lệ cung tín dụng/GDP đã rất cao. Chưa kể, với sự chuyển động của dòng tiền trên thị trường, sẽ có một lượng tiền lớn đang bị chôn vào các kênh bất động sản, chứng khoán… chuyển sang và gây sức ép đến thị trường hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng. Vì vậy, theo ông Long, trong thời gian tới cần nâng cao hiệu quả trong phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ trong điều hành cung tiền, lãi suất, trung hòa lượng tiền vào - ra, điều tiết giá cả.

Chuyên gia kinh tế PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cũng đề xuất, NHNN cần tiếp tục theo dõi sát tình hình biến động của nền kinh tế thế giới và thị trường tài chính – tiền tệ; chủ động thực hiện điều hành linh hoạt lãi suất, công cụ thị trường mở; tích cực quản lý và điều chỉnh tỷ giá hối đoái linh hoạt, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, nâng cao giá trị đồng Việt Nam, từ đó góp phần kìm giữ lạm phát cơ bản để làm cơ sở cho việc kìm giữ lạm phát chung.

Quỳnh Trang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700