Căn chỉnh chính sách tiền tệ trước áp lực lạm phát

10:06 | 13/12/2021

Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết, NHNN sẽ theo dõi sát tình hình để đưa ra những chính sách ứng phó kịp thời kiểm soát lạm phát hiệu quả, ổn định vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu cao nhất là ưu tiên đảm bảo ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và đảm bảo an toàn, bền vững hệ thống các TCTD, đặc biệt là trong bối cảnh nợ xấu gia tăng.

can chinh chinh sach tien te truoc ap luc lam phat Thế khó của các nhà hoạch định chính sách tiền tệ
can chinh chinh sach tien te truoc ap luc lam phat Thanh khoản dồi dào đã giúp ngân hàng giảm lãi suất, hỗ trợ nền kinh tế
can chinh chinh sach tien te truoc ap luc lam phat Chính sách tiền tệ: Linh hoạt, thận trọng

Áp lực lạm phát

Lạm phát đang có xu hướng tăng cao trên toàn cầu. Tại Mỹ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã tăng tới 6,2% trong tháng 10 so với một năm trước đó, mức tăng cao nhất kể từ tháng 11/1990.

Trong một bài viết đăng trên website của IMF mới đây, các nhà kinh tế Tobias Adrian – Cố vấn tài chính kiêm Giám đốc Ban Thị trường vốn và tiền tệ; và Gita Gopinath – Nhà kinh tế trưởng của IMF cảnh báo, áp lực lạm phát gia tăng và biến thể Omicron đang tạo ra những bất ổn mới, đẩy các nhà hoạch định chính sách tiền tệ đối mặt với những vấn đề đầy thách thức.

Theo các nhà kinh tế của IMF, giá năng lượng và lương thực tăng đã đẩy lạm phát tăng cao ở nhiều quốc gia và những yếu tố này có thể tiếp tục thúc đẩy lạm phát vào năm 2022, đặc biệt là giá lương thực. Nguyên nhân do nhu cầu đã tăng trở lại nhờ các chính sách hỗ trợ tài khóa và tiền tệ, đặc biệt là ở các nền kinh tế tiên tiến. Bên cạnh đó, sự gián đoạn nguồn cung do đại dịch và biến đổi khí hậu, cũng như sự thay đổi chi tiêu cho hàng hóa thay vì dịch vụ đã làm tăng áp lực giá cả. Ngoài ra, áp lực tiền lương tại một số phân khúc thị trường lao động...

can chinh chinh sach tien te truoc ap luc lam phat
Ưu tiên đảm bảo ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD

Giá cả nhiều loại hàng hóa, nguyên vật liệu, đặc biệt là xăng dầu tăng nhanh; trong khi Việt Nam là nước có độ mở kinh tế lớn, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP là 200% nên áp lực nhập khẩu lạm phát là khá lớn. Trong nước, nền kinh tế cũng đang phục hồi khi nhiều địa phương mở cửa trở lại cũng sẽ tạo thêm áp lực đến lạm phát.

Bởi vậy theo các chuyên gia, mặc dù lạm phát năm nay chắc chắn sẽ được kiểm soát dưới 4% như mục tiêu đã đề ra, song không thể chủ quan trước áp lực lạm phát trong năm tới. Nhiều tổ chức quốc tế cũng dự báo, lạm phát của Việt Nam trong năm tới khoảng 3,5 - 4%, rủi ro lạm phát vượt 4% phụ thuộc vào giá cả hàng hoá thế giới.

Có cái nhìn lạc quan hơn về lạm phát năm 2022, chuyên gia kinh tế Phạm Xuân Hoè nhận thấy những năm qua, sự phối hợp giữa các chính sách đã tốt hơn rất nhiều. Việt Nam có độ mở kinh tế lớn, song chúng ta nhập khẩu nguyên liệu vào để sản xuất ra hàng hoá và lại xuất khẩu đi, như vậy áp lực lạm phát trong nội địa cũng không quá lớn.

Mặc dù vậy, áp lực lạm phát tăng cũng gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành chính sách tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế phục hồi.

Chủ động, linh hoạt

Lạm phát tăng nhanh đã khiến nhiều NHTW trên thế giới bắt đầu thu hẹp lại các biện pháp nới lỏng tiền tệ, thậm chí là thắt chặt lại chính sách. Theo thống kê của NHNN, từ đầu năm đến nay, thế giới đã chứng kiến 93 lượt tăng lãi suất của các NHTW, trong đó riêng từ tháng 9/2021 đến nay đã chứng kiến 50 lượt tăng lãi suất...

Đặc biệt tại cuộc họp chính sách tháng 11, Fed đã quyết định sẽ thu hẹp quy mô chương trình mua tài sản từ 120 tỷ USD/tháng xuống còn 105 tỷ USD/tháng ngay từ cuối tháng 11 và dự kiến sẽ kết thúc chương trình này vào giữa năm tới. Cơ quan này còn phát đi tín hiệu có thể tăng lãi suất trong năm 2022 ngay sau khi chương trình mua tài sản kết thúc.

Với diễn biến trên, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết, NHNN sẽ theo dõi sát tình hình để đưa ra những chính sách ứng phó kịp thời kiểm soát lạm phát hiệu quả, ổn định vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu cao nhất là ưu tiên đảm bảo ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và đảm bảo an toàn, bền vững hệ thống các TCTD, đặc biệt là trong bối cảnh nợ xấu gia tăng.

Theo TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, điều kiện thị trường tiền tệ ngân hàng hiện nay khả quan hơn giai đoạn trước khi chỉ số giá tiêu dùng trong 11 tháng năm 2021 chỉ tăng 1,84% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng thấp nhất từ năm 2016 tạo điều kiện cho NHNN chủ động trong điều hành chính sách.

Tuy nhiên theo ông, mặc dù chính sách tiền tệ vẫn còn dư địa, nhưng “dung lượng” không nhiều. Bởi lãi suất hiện đã giảm ở mức tương đối thấp trong khi xu thế thế giới hiện nay bắt đầu tăng lãi suất, thu hẹp dần các gói hỗ trợ. Trong khi áp lực lạm phát, nợ xấu trong hệ thống tài chính - ngân hàng cũng đang có xu hướng gia tăng...

Để giảm áp lực đồng thời tạo thêm dư địa để các TCTD hỗ trợ khách hàng, nền kinh tế, một chuyên gia đề xuất xem xét nghiên cứu giữ nguyên tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN để giảm sức ép cho TCTD về huy động vốn trung dài hạn trong thời gian tới; linh hoạt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức 13 - 14% trong năm 2022 - 2023. Ngoài ra, nên tiếp tục duy trì thực hiện các chính sách hiện hành, đặc biệt là Thông tư số 14/2021/TT-NHNN về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi phí, giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19. Nếu đến hết tháng 06/2022, trong trường hợp cần thiết có thể nghiên cứu để gia hạn thêm. Cùng với đó, có thể sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở để hỗ trợ các TCTD duy trì lãi suất ở mức thấp, phấn đấu giảm thêm 0,5-1% lãi suất cho vay bình quân trong năm 2022 và duy trì ổn định trong năm 2023... Đồng thời tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định để các TCTD phi ngân hàng (gồm cả Fintech…) tham gia cho vay tiêu dùng an toàn, lành mạnh, góp phần kích cầu tiêu dùng trong xã hội; đặc biệt quan tâm tới đề xuất phương thức luật hoá xử lý nợ xấu…

Dưới góc độ cơ quan quản lý, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà nhấn mạnh, thời gian tới NHNN vẫn sẽ kiên định với việc điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Đồng thời tiếp tục theo dõi sát diễn biến nguy cơ lạm phát hiện hữu nhằm kiểm soát tiền tệ.

Cơ quan điều hành cũng sẽ chú ý tới việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong cơ cấu lại thời hạn trả nợ, bởi điều này sẽ ảnh hưởng tới chất lượng tài sản của các TCTD, nguy cơ nợ xấu phát sinh trong thời gian tới.

NHNN cũng sẽ cân đối điều hành lãi suất trong tương quan với lạm phát và lợi ích của người gửi tiền. Tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, nếu điều kiện cho phép có thể xem xét điều chỉnh giảm lãi suất ở mức phù hợp.

“NHNN sẽ cùng hệ thống ngân hàng đồng hành với nền kinh tế, tiếp tục duy trì thanh khoản cho hệ thống, ổn định mặt bằng lãi suất, không chủ quan với lạm phát”, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà khẳng định.

Minh Khôi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.705 24.015 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.735 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.718 24.018 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.710 24.010 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 23.990 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.730 24.030 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.728 24.020 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.710 24.080 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.780 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.700
65.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.700
65.700
Vàng SJC 5c
64.700
65.720
Vàng nhẫn 9999
52.250
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.850