Chứng khoán châu Âu có thể sẽ “hỗn độn”

10:53 | 31/08/2020

Chứng khoán châu Âu dự kiến sẽ mở cửa trong trạng thái hỗn độn khi các nhà đầu tư tập trung chú ý vào bài phát biểu sắp tới của ông Jerome Powell, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) về định hướng chính sách tiền tệ và dự kiến sẽ ban hành một số công cụ mới nhằm chống lại tác động của Covid-19.

FTSE của London được thấy mở cao hơn 4 điểm ở mức 6.045, DAX của Đức tăng 8 điểm ở mức 13.195, CAC 40 của Pháp giảm 2 điểm ở 5.044 và FTSE MIB của Ý giảm 28 điểm ở 20.088.

Các nhà đầu tư toàn cầu đang trông đợi vào công cụ mới để chống lại tác động của Covid-19 tới nền kinh tế và thúc đẩy lạm phát ở Mỹ. Fed dự kiến mức lạm phát 2% mục tiêu, nhưng trong suốt kỳ khủng hoảng tài chính do đại dịch Covid-19, lạm phát vẫn chưa giảm xuống dưới mục tiêu.

Các nhà đầu tư đang tập trung mối quan tâm vào định hướng chính sách tiền tệ mới của Fed

Trong khi đó, cổ phiếu ở Châu Á-Thái Bình Dương đã biến động trái chiều trong giao dịch sáng thứ Năm khi dữ liệu mới nhất cho thấy nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục phục hồi. Thị trường dầu cũng đang là tâm điểm, sau khi các giàn khoan và nhà máy lọc dầu đóng cửa trước một cơn bão lớn đang tiến đến Texas và Louisiana.

Chỉ số Stoxx 600 toàn châu Âu tạm thời đóng cửa tăng 0,8%, đảo ngược mức giảm trước đó, với hầu hết các ngành và sàn chính đều tăng điểm.

Cổ phiếu công nghệ dẫn đầu mức tăng với mức tăng 2%. Aveva là công ty hàng đầu trong lĩnh vực này, tăng gần 10% sau khi công bố thỏa thuận trị giá 5 tỷ USD để mua lại Công ty phần mềm OSIsoft của Mỹ do SoftBank hậu thuẫn.

Các động thái ban đầu của thị trường châu Âu tương đối mờ nhạt so với thị trường Châu Á. Chứng khoán Châu Á - Thái Bình Dương giảm trong giao dịch buổi chiều mặc dù các chỉ số chính ở Phố Wall đã ghi nhận kỷ lục mới một lần nữa vào thứ Ba.

Thị trường Mỹ được hỗ trợ bởi các cuộc đàm phán thương mại trong phiên trước giữa Trung Quốc và Mỹ đã nối lại. Trong một tuyên bố gần đây, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ cho biết cả hai bên đều đạt được tiến bộ và “cam kết thực hiện các bước cần thiết” để đảm bảo thành công của thỏa thuận thương mại giai đoạn một.

Các nhà đầu tư đang tập trung mối quan tâm vào định hướng chính sách tiền tệ mới của Fed tại hội nghị chuyên đề hàng năm được tổ chức tới đây. Phố Wall sẽ tìm kiếm các biện pháp kích thích hơn nữa. Các nhà đầu tư sẽ đặc biệt xem xét những phát biểu của Chủ tịch Fed Jerome Powell về lạm phát và tác động của nó đối với đồng USD.

Trở lại thị trường châu Âu, Elekta của Thụy Điển đã tăng lên đầu bảng điểm chuẩn của châu Âu vào thứ tư. Cổ phiếu của công ty niêm yết tại Stockholm đã tăng 11% sau khi nhà sản xuất thiết bị bức xạ báo cáo lợi nhuận tăng vọt trong quý đầu tiên của công ty.

Trong khi đó, Ambu của Đan Mạch tụt xuống đáy Stoxx 600. Chỉ số này xuất hiện sau khi công ty sản xuất các thiết bị chẩn đoán và hỗ trợ sự sống, hạ cấp dự báo về tăng trưởng hữu cơ cho năm tài chính 2019/2020. Cổ phiếu của công ty niêm yết ở Copenhagen đã giảm hơn 13% khi có thông tin này.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.260 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.264 23.550 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.300
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.800