Chuyên gia đề xuất 4 kiến nghị gỡ vướng mắc cho xử lý nợ xấu

17:22 | 25/06/2021

Bàn về thực trạng ngân hàng thực hiện khoanh nợ, giãn nợ trong thời gian qua, làm sao để đạt được kết quả xử lý nợ xấu như mục tiêu đề ra. Với Nghị quyết 42, trong bối cảnh mới, cơ quan chức năng nên có giải pháp gì để tiếp tục duy trì mục tiêu xử lý nợ xấu?. Tại Tọa đàm “Nợ xấu trong đại dịch Covid-19 - Giải pháp hỗ trợ ngành ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp” do Báo Tiền Phong phối hợp với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổ chức, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV đã đề xuất 4 kiến nghị để quá trình xử lý nợ xấu và thực hiện Nghị quyết 42 mang lại hiệu quả cao hơn, nhất là trong giai đoạn 2021-2025.  

TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV cho biết, Nghị quyết 42, là hành lang pháp lý hỗ trợ rất lớn cho công tác xử lý nợ, giúp các ngân hàng giải quyết “cục máu đông” tồn đọng từ thời kỳ khủng hoảng tài chính 2011-2013.

chuyen gia de xuat 4 kien nghi go vuong mac cho xu ly no xau
TS. Cấn Văn Lực phát biểu tại tọa đàm

Việc có thể xử lý được tài sản để thu hồi nợ theo Nghị quyết 42 không chỉ giúp ngân hàng thu hồi nợ xấu, mà còn có tác động rất tích cực tới các khách hàng vay vốn của ngân hàng.

Ông Lực đã chỉ ra 4 kết quả nổi bật:

Thứ nhất, công tác triển khai Nghị quyết 42 đã được thực hiện nghiêm túc, mang lại kết quả tích cực. Theo số liệu được công bố gần đây nhất của NHNN, lũy kế từ thời điểm Nghị quyết 42 bắt đầu có hiệu lực (tháng 8/2017) đến hết tháng 4/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được khoảng 530 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó có 350 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết 42 (chiếm 66% nợ xấu được xử lý), gấp 4 lần so với giá trị nợ xấu được xử lý trong giai đoạn trước đó từ 2012-2017.

Thứ hai, đã góp phần hoàn thiện thể chế, khung pháp lý cho công tác xử lý nợ xấu. Sau khi Nghị quyết 42 đi vào triển khai, nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện của Chính Phủ, NHNN, Bộ Tư pháp, Tòa án Nhân dân tối cao… đã được ban hành đã giúp Nghị quyết đi vào thực tiễn, có bước tiến lớn so với trước kia và đã tương đối hoàn thiện, tiệm cận thông lệ quốc tế hơn.

Thứ ba, giúp đẩy nhanh hơn tốc độ xử lý nợ xấu, góp phần quan trọng vào thực hiện thành công Đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định 1058/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Thứ tư, thay đổi nhận thức của người dân, doanh nghiệp cũng như nhận thức về trách nhiệm của cơ quan liên quan như công an, tòa án, địa phương... đối với công tác xử lý nợ xấu. Những văn bản hướng dẫn thực thi Nghị quyết 42 dần được ban hành, phần nào thể hiện được nỗ lực vào cuộc của các cấp, các ngành và địa phương. Đặc biệt, nhận thức, thiện chí của bên vay trong việc giải quyết nợ xấu đã được tăng lên, góp phần đáng kể vào kết quả xử lý nợ xấu thời gian qua.

Theo NHNN, kể từ khi triển khai Nghị quyết 42 đến hết tháng 4/2021, quy mô nợ xấu theo Nghị quyết 42 được khách hàng trả nợ là 150 nghìn tỷ đồng (chiếm 44% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao gần gấp đôi mức trung bình giai đoạn 2012-2017 là 22,8%. Điều này minh chứng rõ nét về ý thức trả nợ của khách hàng đã được nâng lên.

Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được thì công cuộc xử lý nợ xấu, theo TS. Cấn Văn Lực, còn có 4 vướng mắc chính: Sự vào cuộc, phối kết hợp của các cơ quan chức năng, địa phương còn chưa kịp thời, chưa đồng bộ và nhất quán, dẫn đến quá trình thực thi Nghị quyết gặp không ít khó khăn; Còn nhiều vướng mắc trong xử lý tài sản đảm bảo; Khâu định giá, thẩm định giá khoản nợ và tài sản đảm bảo khó khăn; Việt Nam vẫn còn thiếu vắng một thị trường mua bán nợ chính thức thực sự, các nghiệp vụ phái sinh cho khoản nợ xấu (nhưng chứng khoán hóa) chưa có, dẫn đến thiếu nhà đầu tư có năng lực, thiếu tính thanh khoản của các khoản nợ, làm giảm tính hấp dẫn, giá trị và nguồn lực để xử lý các khoản nợ này, khiến quá trình mua - bán nợ theo giá thị trường càng khó khăn.

Trên cơ sở những vướng mắc đó, TS. Cấn Văn Lực đề xuất 4 kiến nghị để quá trình xử lý nợ xấu và thực hiện Nghị quyết 42 mang lại hiệu quả cao hơn, nhất là trong giai đoạn 2021-2025.

Thứ nhất, Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo các cơ quan liên quan, địa phương khẩn trương tháo gỡ, xử lý dứt điểm những vướng mắc chính nêu trên theo chức năng - nhiệm vụ, nhất là khâu hướng dẫn triển khai đồng bộ, nhất quán và phối kết hợp tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả trên tinh thần vì cái chung.

Thứ hai, Chính phủ chỉ đạo đẩy nhanh, thực chất tiến trình cơ cấu lại DNNN, nâng cao năng lực tài chính - quản trị, tạo điều kiện để hệ thống các TCTD xử lý nợ xấu. Các bộ chủ quản chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty thực hiện nghĩa vụ trả nợ hay nghĩa vụ bảo lãnh đối với các khoản vay tại các TCTD mà các đơn vị đứng ra bảo lãnh cho các công ty con, công ty thành viên của mình.

Thứ ba, trên cơ sở thực tế áp dụng chính sách tại Nghị quyết 42 và tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quyết định số 1058/QĐ-TTg đến hết năm 2020, Chính phủ chỉ đạo sớm hoàn thiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2021-2025 nhằm tiếp tục hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý hiệu quả nợ xấu, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu về cơ cấu lại hệ thống các TCTD và chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 như đã nêu tại Quyết định 986/QĐ-TTg.

Theo đó, các TCTD tiếp tục rà soát chính sách, quy trình về tín dụng, tăng cường kiểm soát rủi ro (nhất là trong bối cảnh tác động tiêu cực bởi đại dịch Covid-9) nhằm hạn chế nợ xấu gia tăng trong tương lai.

Cuối cùng, Chính phủ nên xem xét đề xuất Quốc hội luật hóa Nghị quyết 42 trên cơ sở rà soát, hoàn thiện và hệ thống hóa các quy định pháp luật liên quan. Thực tế chứng minh Nghị quyết 42 đã mang lại rất nhiều kết quả tích cực cho công tác xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, đối tượng tập trung vào các khoản nợ được hình thành trước khi Nghị quyết có hiệu lực (ngày 15/8/2017). Trong khi đó, nợ xấu là vấn đề liên tục, luôn hiện hữu của ngành Ngân hàng.

Hơn nữa, trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, nợ xấu đã và đang tăng cao trong khi Nghị quyết 42 sẽ hết hiệu lực chỉ trong hơn 1 năm nữa, sẽ khiến áp lực xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD trong thời gian tới là rất lớn. Việc luật hóa xử lý nợ xấu cũng là tăng hiệu lực, hiệu quả của công tác thể chế, một trong ba đột phá chiến lược tiếp tục được Đại hội Đảng XIII lựa chọn, thông qua.

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.390 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.110 23.390 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.091 23.391 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.090 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.140 23.350 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.130 23.350 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.105 23.625 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.109 23.400 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.115 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.160 23.430 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.950
68.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.950
68.650
Vàng SJC 5c
67.950
68.670
Vàng nhẫn 9999
53.750
54.700
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.300