Cơ hội trở thành trung tâm tài chính quốc tế

08:04 | 25/01/2022

Nếu các mô hình tập đoàn tài chính có đủ pháp lý để hoạt động và việc cấp phép cho ngân hàng số 100% có sự cởi mở hơn thì TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung sẽ có sự bứt phá mạnh trong thu hút đầu tư vào lĩnh vực tài chính - ngân hàng trong các năm tới.

Nhận định trên được ông Nguyễn Xuân Thành - Giảng viên Trường Đại học Fulbright Việt Nam đưa ra khi thảo luận về những giải pháp để thúc đẩy phục hồi phát triển kinh tế TP.HCM và cả nước trong khuôn khổ Hội thảo “Kinh tế Việt Nam 2022 - Phục hồi kinh tế sau khủng hoảng Covid-19” do Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM tổ chức mới đây.

Theo ông Thành, trong năm 2022 các gói hỗ trợ về tài khóa và tiền tệ sẽ có tác động nhanh và rộng hơn đến các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Trong đó, đối với ngành Ngân hàng, gói hỗ trợ lãi suất 2% (khoảng 40.000 tỷ đồng, dành cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh…) và việc Chính phủ tăng hạn mức bảo lãnh đối với trái phiếu phát hành trong nước cho Ngân hàng Chính sách xã hội (tối đa 38.400 tỷ đồng, để cho vay giải quyết việc làm, cho vay học sinh sinh viên, mua - thuê mua nhà ở xã hội...) sẽ là động lực tích cực để tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống.

co hoi tro thanh trung tam tai chinh quoc te
Ảnh minh họa

Riêng tại địa bàn TP.HCM, ông Thành cho rằng, trong năm nay, thậm chí 1-2 năm sau, ngoài việc tháo gỡ những nút thắt pháp lý để tái khởi động các dự án lớn trong khu vực kinh tế tư nhân (khoảng 200 dự án, chủ yếu vướng mắc liên quan đến lĩnh vực đất đai) thì việc đẩy mạnh phát triển lĩnh vực tài chính - ngân hàng cũng nên được xem là giải pháp chiến lược để phục hồi và tăng trưởng kinh tế của toàn thành phố.

Để đẩy mạnh phát triển lĩnh vực tài chính - ngân hàng, theo ông Thành, TP.HCM nên tiếp cận theo tư duy đột phá và cởi mở, đề xuất với Chính phủ những cơ chế chính sách đặc thù để phát triển Trung tâm Tài chính ngân hàng TP.HCM. Bởi, sau khi Việt Nam cung cấp số liệu cho Tổ chức Global Financial Centres Index (tổ chức duy nhất trên thế giới thực hiện chấm điểm xếp hạng các trung tâm tài chính quốc tế) thì tổ chức này đã thực hiện chấm điểm cho các trung tâm tài chính tại Việt Nam. Theo đó, tại Việt Nam chỉ duy nhất có TP.HCM được Global Financial Centres Index ghi nhận là có trình độ phát triển tài chính và cơ sở hạ tầng hỗ trợ đạt mức “trung tâm tài chính toàn cầu thứ cấp”, tương đương với Jakarta của Indonesia và Manila của Philippines.

Chính vì vậy, theo ông Thành, trong năm 2022 và các năm sắp tới nền móng để xây dựng TP.HCM trở thành một Trung tâm Tài chính quốc tế thực sự là rất hiện hữu và vững chắc chứ không phải chỉ là “hướng đến”. Để hiện thực hóa điều này, ông Thành cho rằng, không chỉ TP.HCM mà Chính phủ, NHNN cũng cần nghiên cứu để hoàn thiện các pháp lý, làm sao để cho phép các mô hình tập đoàn tài chính được hoạt động nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư từ các thị trường tài chính lớn trên thế giới, mở rộng cửa cho các TCTD trong nước hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài.

Trong ngắn hạn, có thể xem xét các chính sách cởi mở hơn đối với việc cấp phép cho ngân hàng số 100% hoạt động bên cạnh hệ thống ngân hàng hiện hữu. Bởi, hiện nay trong khu vực châu Á, các quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Indonesia, Thái Lan, Philippines hiện đều đã có những chính sách thúc đẩy mô hình ngân hàng số 100%. “Nếu Việt Nam “chậm chân” hơn thì sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội tự do hóa tài chính, thu hút dòng vốn lớn từ các thị trường khu vực và thế giới”, ông Thành nhận định.

Theo báo cáo thường niên về kinh tế vĩ mô do Đại học Ngân hàng TP.HCM tổ chức nghiên cứu dự báo năm 2022 tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ đạt mức 6,5-7%. Trong đó, mục tiêu kiên định chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, nhóm nghiên cứu nhận định lạm phát tổng thể năm 2022 dự báo trong khoảng 3,3-3,7%. Dự báo này tương đồng với kết quả dự báo của ADB về mức lạm phát của Việt Nam trong năm nay, ở mức 3,5%.

Ông Lê Hoài Ân, Giảng viên trường Đại học Ngân hàng TP.HCM đánh giá, trong năm nay các nhóm ngành Ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, xây dựng sẽ tiếp tục là những ngành duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Trong đó, nhóm ngành Ngân hàng sẽ là nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất bởi Việt Nam do đang nằm trong chu kỳ nợ tiêu dùng đã bắt đầu từ năm 2015 và có thể kéo dài đến các năm 2023-2024. Ở chiều ngược lại, các nhóm ngành thực phẩm, vật liệu sẽ là các nhóm ngành tiếp tục có sự tăng trưởng chậm và sụt giảm lợi nhuận. Việc mở rộng sản xuất trở lại ở các thị trường lớn như Trung Quốc, Đài Loan sẽ khiến giá vật liệu không còn duy trì mức cao như năm 2021.

Thạch Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700