Có nên rót vốn vào bất động sản trong năm 2020

10:09 | 15/11/2019

Đa dạng hóa sản phẩm cũng là cách để các công ty phát triển BĐS giải quyết khó khăn hiện tại

Hạ tầng kết nối đánh thức tiềm năng bất động sản Tây Nam Bộ
Lễ ký kết dự án Biệt thự đảo Ecopark Grand - The Island giai đoạn 2
Bất động sản Nam Đà Nẵng bước vào đợt sóng lớn

Theo ông Lê Anh Tuấn – Phó Tổng giám đốc Đầu tư Dragon Capital, có 4 yếu tố cốt lõi tác động tới kinh tế vĩ mô nói chung, và ảnh hưởng tới thị trường bất động sản (BĐS) dài hạn là sự tăng trưởng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu Việt Nam; sự ổn định về kinh tế vĩ mô; cải thiện cơ sở hạ tầng và cuối cùng là tỷ lệ đô thị hoá đang tăng nhanh. Trong đó, sự phát triển của tầng lớp trung lưu sẽ khiến nguồn cầu dồi dào trong khi nguồn cung BĐS, đặc biệt là phân khúc tầm trung và cao cấp đang bị chững lại.

Đa dạng hóa sản phẩm cũng là cách để các công ty phát triển BĐS giải quyết khó khăn hiện tại

“Đối với phân khúc BĐS cao cấp, sức nóng vẫn tiếp tục nhưng có thể giảm dần trong tương lai. Gần như các dự án hiện có trên thị trường đều có thể được bán hết. Tuy nhiên, mức giá giữa 2 thị trường BĐS sơ cấp và thứ cấp đang có chênh lệch lớn, ở mức 20-30%. Còn với phân khúc BĐS tầm trung, thì tăng trưởng ổn định sẽ là xu thế trong dài hạn. Như vậy, nguồn cầu đã dồi dào. Vấn đề là các nhà đầu tư liệu có đủ nguồn cung cho khách hàng hay không. Chất lượng của các sản phẩm ở phân khúc trung - cao cấp ngày càng được cải thiện, kết hợp với nhiều giải pháp tái cấu trúc tài chính hợp lý khi mua nhà cũng là một trong những chỉ dấu cho thấy sự lạc quan trong thị trường BĐS ngắn hạn” – ông Tuấn phân tích.

Bàn về vấn đề sẽ “rót vốn” vào đâu trong năm 2020, ông Võ Sỹ Nhân, Giám đốc điều hành Empire City cho rằng, ông sẽ thận trọng với các dự án mới vì thị trường chưa thật sự khởi sắc, vì vậy ông sẽ đầu tư vào các dự án tạo ra nguồn thu. Ở một góc độ khác, theo ông Nguyễn Bá Sáng, Chủ tịch HĐQT và CEO Tập đoàn bất động sản An Gia, Tập đoàn sẽ chọn các dự án đầu tư nằm trong tầm kiểm soát rủi ro, vì mỗi loại hình BĐS sẽ có mức hấp dẫn và độ rủi ro khác nhau, nên cách tốt nhất là “không bỏ trứng vào một rổ” trong thời gian tới.

Còn dưới góc nhìn của nhà đầu tư nước ngoài, ông Wyeren Yap Vooi Soon, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Gamuda Land khẳng định, ông vẫn hứng thú với các dự án phức hợp trong khu trung tâm. Bởi rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt Nam muốn xây dựng các khu dân cư mà gia đình nhiều thế hệ có thể sống và phát triển bền vững.

Đại diện CBRE Việt Nam cũng đưa ra dự báo thị trường BĐS năm 2020: Thị trường sẽ có thêm nhiều dự án, hình thành các đô thị lớn khu vực cận trung tâm TP.HCM như Bình Chánh, Nhà Bè... Nhiều công trình hạ tầng liên tỉnh đang hoàn thiện giúp TP.HCM và khu vực lân cận như Long An, Bình Dương, Đồng Nai… phát triển các khu đô thị mới và thu hút vốn nhà đầu tư. Theo đó, các chủ đầu tư sẽ đưa ra nhiều sản phẩm mới theo hướng tập trung vào tiện ích của người dân và tối đa hóa diện tích sử dụng. Dù nguồn cung khó khăn nhưng nhu cầu lớn, nên đà tăng tiêu thụ và giá bán ở thị trường đều có thể cải thiện.

Một số chuyên gia cho rằng, tại TP.HCM, những quỹ đất “sạch” (có cơ sở pháp lý rõ ràng và đã bồi thường và giải phóng mặt bằng cho các dự án) ngày càng khan hiếm, một số nhà phát triển dự án đang chuyển hướng tới các tỉnh lân cận TP.HCM, mang đến những sự lựa chọn mới cho người mua.

Ông Neil Macgregor, Tổng giám đốc Savills Việt Nam nhận định, trong hai năm qua, nhu cầu BĐS ở Việt Nam vẫn rất cao, nên các công ty không mấy phải lo lắng về “đầu ra”. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của các nhà phát triển BĐS Việt Nam nằm ở nút thắt mang tên nguồn cung. Hai năm qua, bên cạnh vấn đề vay vốn, tiếp cận quỹ đất và áp lực mở bán dự án thành công, thách thức nổi bật là về giấy phép dự án.

Tương tự, ông Nguyễn Thái Phiên - Giám đốc cấp cao Tài chính doanh nghiệp của Novaland chia sẻ, nguồn cung trên thị trường BĐS TP.HCM đã suy giảm nhiều nên các công ty đang phải vừa tìm kiếm quỹ đất tốt, vừa phải chào bán ra thị trường với mức giá chấp nhận được. Để giải bài toán khó tiếp cận quỹ đất ở trung tâm các thành phố lớn như TP.HCM và Hà Nội, nhiều công ty đang chủ động tiếp cận các quỹ đất mới theo hướng mở rộng ra các khu vực ngoại vi. Hiện, quỹ đất với quy mô lớn hơn 1 hecta trong trung tâm TP.HCM đang rất hiếm và cực quý, vì trung tâm lõi luôn được phát triển đầu tiên trong định hướng phát triển của hầu hết các thành phố.

Cùng với đó, đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường cũng là cách để các công ty phát triển BĐS trong nước giải quyết những khó khăn hiện tại.

Minh Tuyết

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950