Cổ phiếu ngân hàng sẽ nhiều triển vọng trong năm nay

10:15 | 27/03/2022

Theo báo cáo mới nhất từ Trung tâm phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research), mức tăng trưởng lợi nhuận bình quân của các ngân hàng trong quý I/2022 sẽ đạt từ một đến hai chữ số thấp. Tuy nhiên mức tăng trưởng này sẽ có sự phân hóa giữa các ngân hàng và ở mức tương đối thấp so với nền so sánh cao trong cùng kỳ năm 2021. Các ngân hàng còn lại có thể đạt mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 25% -27% so với cùng kỳ. Con số này cao hơn so với kỳ vọng trước đây do VPB đã gia hạn Thỏa thuận hợp tác độc quyền phân phối bảo hiểm với AIA cùng với một khoản phí trả trước bổ sung, giúp ngân hàng có thể đạt được mức tăng trưởng lợi nhuận tốt trong quý I/2022.  

co phieu ngan hang se nhieu trien vong trong nam nay
SSI có quan điểm tích cực về ngành ngân hàng trong năm 2022

Mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế cao nhất được kỳ vọng tại SHB, STB, MSB, VPB và LPB.

Các yếu tố chính giúp các ngân hàng đạt mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế ổn định trong kỳ gồm, thứ nhất, tín dụng tăng trưởng mạnh từ 15%-16% so với cùng kỳ. Theo quan sát, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu dao động trong khoảng 2%-10% so với đầu năm. Một số ngân hàng đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn quý I/2021 bao gồm CTG, BID, MBB, HDB và TPB.

Theo SSI, tín dụng tăng trưởng mạnh từ 15-16% so với cùng kỳ, biên lợi nhuận (NIM) ổn định và nợ xấu, các khoản cho vay tái cơ cấu được kiểm soát tốt là những yếu tố chính giúp các ngân hàng đạt tăng trưởng lợi nhuận trước thuế ổn định trong quý đầu năm.

Đối với cả năm 2022, hầu hết các ngân hàng đều có mục tiêu khả quan cho tăng trưởng lợi nhuận trước thuế ở mức khoảng 24-25% so với cùng kỳ. Con số này cũng tương đương với dự báo ước tính của SSI ở mức 25,5%. Cổ tức bằng cổ phiếu dự kiến dao động trong khoảng 15-35%.

Hạn mức tín dụng ban đầu được cấp cho năm 2022 dao động trong khoảng 7-15%, cao hơn hạn mức năm 2021 ở hầu hết các ngân hàng. Do đó, SSI cho rằng tăng trưởng tín dụng năm 2022 của các ngân hàng này sẽ duy trì ở mức tương đối cao.

Các khoản cho vay tái cơ cấu bắt đầu có xu hướng giảm ở một số ngân hàng (VCB, ACB), và tỷ lệ nợ xấu được giữ ở mức tương đối ổn định so với quý trước. Điều này có thể khiến áp lực trích lập dự phòng không quá nặng nề trong quý I/2022.

TCB và VPB vẫn chưa công bố con số kế hoạch cho năm 2022. Đối với các ngân hàng còn lại, lợi nhuận trước thuế năm 2022 dự kiến sẽ tăng khoảng 24%-25% so với cùng kỳ, con số này nhìn chung phù hợp với ước tính là 25,5%.

Hạn mức tín dụng ban đầu được cấp cho năm 2022 dao động trong khoảng 7%-15% và cao hơn hạn mức năm 2021 ở hầu hết các ngân hàng.

Do đó, SSI Research cho rằng tăng trưởng tín dụng năm 2022 của các ngân hàng này sẽ duy trì ở mức tương đối cao. Hầu hết các ngân hàng đều dự kiến tăng vốn điều lệ từ 15%-35% trong năm 2022 được thực hiện thông qua hình thức chia cổ tức/chia thưởng bằng cổ phiếu.

"Việc công bố kết quả kinh doanh quý I cùng những thông tin về kế hoạch đại hội cổ đông có thể sẽ là những yếu tố hỗ trợ cho diễn biến giá cổ phiếu của ngành ngân hàng trong ngắn hạn. Chúng tôi duy trì quan điểm tích cực về ngành ngân hàng trong năm 2022", SSI Research nhấn mạnh.

Với mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế cho cả năm 2022 gấp đôi tốc độ tăng trưởng của quý I/2022, triển vọng lợi nhuận của nhóm ngân hàng thuộc phạm vi nghiên cứu trong 3 quý còn lại là khá khả quan.

Bên cạnh đó, kế hoạch của các ngân hàng cho năm 2022 đều cho thấy triển vọng lợi nhuận khả quan. Sau khi tham dự các cuộc họp với nhà đầu tư và xem xét một số tài liệu đại hội cổ đông, hầu hết các ngân hàng đều có quan điểm khả quan về năm 2022.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.300 23.600 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.270 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.310 23.570 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.748 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.301 23.622 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.770 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.200
Vàng SJC 5c
66.300
67.720
Vàng nhẫn 9999
54.500
55.700
Vàng nữ trang 9999
54.300
55.300