banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 12/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.621 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.398/26.860 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Củng cố niềm tin xã hội - Nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ 1)

Đại hội XIV của Đảng xác định tầm nhìn chiến lược phát triển đất nước: “Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, đặt ra nhiều vấn đề mới. Trong nước, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế được nâng lên nhưng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức hơn. Bên cạnh đó, niềm tin xã hội của một bộ phận Nhân dân biến đổi phức tạp, có xu hướng giảm sút. Vì vậy, củng cố niềm tin xã hội để góp phần thực hiện thành công tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn mới là rất cần thiết.
aa

Kỳ 1. Niềm tin xã hội và thực tiễn khách quan

Niềm tin xã hội là cụm danh từ được ghép bởi hai từ: niềm tin và xã hội. Trong đó, niềm tin là một "khái niệm đa nghĩa, trừu tượng, phức tạp", không chỉ là một trạng thái cảm xúc, mà là sự tin tưởng, kỳ vọng hoặc chấp nhận một điều gì đó là đúng, có giá trị, bất kể có hay không có bằng chứng rõ ràng. Niềm tin của con người được hình thành qua quá trình tích lũy kinh nghiệm sống, giáo dục và văn hóa, môi trường xã hội, nhận thức và cảm xúc. Yếu tố văn hóa và giáo dục là những căn cứ quan trọng nhất tạo nên sự khác biệt niềm tin của mỗi con người. Xã hội là “sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” [t.27, tr.657], “là biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân” [t.46, tr.355].

Niềm tin xã hội là một trong những yếu tố quyết định bản chất các mối quan hệ xã hội, là chất keo kết dính các mối quan hệ xã hội. Một quốc gia, dân tộc muốn phát triển thì phải tạo lập được niềm tin trong xã hội về mục tiêu chung - niềm tin giữa con người với nhau; niềm tin giữa cá nhân với tập thể, tổ chức; niềm tin của doanh nghiệp, tổ chức, người dân vào hệ thống chính trị, thể chế, luật pháp, đội ngũ công chức thực thi và vận hành quyền lực nhà nước;... Niềm tin đó phải dựa trên sự trung thực, thống nhất, chân thành trong tư duy, lời nói và hành động của mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Khi có niềm tin, con người sẽ chủ động năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm để vượt qua khó khăn, biến mơ ước thành hiện thực, xây dựng mối quan hệ hài hòa, tiến bộ giữa người với người.

Dưới góc độ chính trị - xã hội, niềm tin xã hội là mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước, với chế độ. Xây dựng và củng cố niềm tin xã hội là xây dựng, củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước thông qua hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm tạo sự đồng thuận, đoàn kết trong xã hội để hiện thực hóa mục tiêu “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” [t.1, tr.44].

Lịch sử hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh, từ thời Vua Hùng dựng nước, khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 - đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, nếu có niềm tin, sự đoàn kết, ủng hộ của Nhân dân thì “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [t.11, tr.350]; đồng thời, khi niềm tin của Nhân dân về triều đại, chính quyền không còn, sớm hay muộn triều đại, chính quyền đó sẽ sụp đổ.

Củng cố niềm tin xã hội - Nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ 1)
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI. Ảnh tư liệu

Niềm tin của Nhân dân không tự dưng mà có, cũng không phải là khẩu hiệu chính trị hay cảm xúc nhất thời, mà là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài, được kiểm chứng bằng thực tiễn cách mạng và thành tựu trong xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước. Là một người con ưu tú của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc điều này. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, muốn cho dân tin, muốn được lòng dân, Đảng phải thực hành "việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh" [t.4, tr.47]. Người khẳng định, vấn đề quan trọng bậc nhất trong xây dựng niềm tin của Nhân dân đối với Đảng là lợi ích. Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và các thế hệ mai sau, với trái tim chứa chan tình yêu thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân" [t.5, tr. 622].

Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng máy cấy lúa cải tiến tại Trại Thí nghiệp trồng lúa,                               Sở Nông lâm Hà Nội ngày 16-7-1960
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng máy cấy lúa cải tiến tại Trại Thí nghiệp trồng lúa, Sở Nông lâm Hà Nội ngày 16-7-1960

Xuyên suốt quá trình lãnh đạo đất nước, nhất là thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng xây dựng, củng cố niềm tin xã hội của Nhân dân. Đại hội VI của Đảng yêu cầu “Khẩu hiệu “Dân tin Đảng, Đảng tin dân” phải được thực hiện hằng ngày trong cuộc sống thông qua những việc làm cụ thể”; phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu khóa XII, đồng chí nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Tại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp” [t.1, tr.39].

Tổng Bí thư Tô Lâm báo cáo về các văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng                                tại phiên khai mạc, sáng 20-1-2026. Ảnh: TTXVN
Tổng Bí thư Tô Lâm báo cáo về các văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng tại phiên khai mạc, sáng 20-1-2026. Ảnh: TTXVN

Trong quản lý và phát triển đất nước, xây dựng, củng cố và phát huy vai trò của niềm tin xã hội đóng vai trò sống còn đối với sự ổn định chính trị và sự phát triển bền vững của đất nước. Niềm tin xã hội không chỉ là vấn đề mang ý nghĩa chính trị - xã hội mà còn là thước đo quan trọng phản ánh hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng quản trị quốc gia. Niềm tin của Nhân dân đối với nhà nước phải bắt nguồn từ sự liêm chính của công chức và hệ thống luật pháp công bằng, đầy đủ và nghiêm minh. Việc xử lý nghiêm minh tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và kỷ luật cán bộ cấp cao trong thời gian qua cũng là bảo vệ sự trung thực, tạo niềm tin cho Nhân dân. Như vậy, nếu Đảng lãnh đạo mang lại lợi ích thiết thực cho dân, dân ấm no, hạnh phúc sẽ làm cho dân tin Ðảng, tin chế độ.

(Kỳ 2. Nhận diện biểu hiện suy giảm niềm tin xã hội hiện nay)

Nguyễn Sỹ Nam Hiệp - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam

Tin liên quan

Tin khác

Ứng dụng Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter trong quản trị chiến lược các tổ chức tín dụng tại Việt Nam

Ứng dụng Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter trong quản trị chiến lược các tổ chức tín dụng tại Việt Nam

Bài viết nghiên cứu về Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter trên cơ sở tài liệu hướng dẫn của Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc (ACCA). Qua phân tích hướng dẫn và liên hệ với thực tiễn hiện nay của thị trường tài chính Việt Nam, bài viết đưa ra một số luận điểm để áp dụng về Mô hình Năm áp lực cạnh tranh trong quản trị của các tổ chức tín dụng (TCTD).
Triển khai IFRS 9 trong ngân hàng: Kinh nghiệm từ Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia và hàm ý đối với Việt Nam

Triển khai IFRS 9 trong ngân hàng: Kinh nghiệm từ Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia và hàm ý đối với Việt Nam

Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 9 không chỉ thay đổi cách thức ghi nhận và đo lường tổn thất tín dụng mà còn đặt ra yêu cầu toàn diện về dữ liệu, mô hình, quản trị và giám sát tại các ngân hàng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc triển khai chuẩn mực này, đặc biệt là mô hình tổn thất tín dụng dự kiến (ECL), góp phần nhận diện sớm rủi ro, nâng cao tính minh bạch của báo cáo tài chính và tăng cường khả năng chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc kinh tế.
Phát huy vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hỗ trợ hoạt động xuất - nhập khẩu

Phát huy vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hỗ trợ hoạt động xuất - nhập khẩu

Năm 2026 mở đầu cho Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2026 - 2030, trong đó có yêu cầu phát huy hiệu quả các động lực từ công nghiệp, thương mại và xuất - nhập khẩu. Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động xuất - nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động, đồng thời làm rõ vai trò của hệ thống ngân hàng trong cung ứng tín dụng, điều hành tỉ giá, bảo đảm thanh khoản và phát triển hạ tầng thanh toán số. Trên cơ sở đó, bài viết nhấn mạnh yêu cầu phối hợp giữa chính sách công thương và chính sách tiền tệ nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ Trung Quốc trước bài toán cầu yếu, giảm phát và tỷ giá: Hàm ý đối với Việt Nam

Chính sách tiền tệ Trung Quốc trước bài toán cầu yếu, giảm phát và tỷ giá: Hàm ý đối với Việt Nam

Kinh tế Trung Quốc dù duy trì tăng trưởng nhưng đang đối mặt với sức cầu nội địa yếu, giảm phát, bất động sản suy giảm và biến động Nhân dân tệ, đặt ra thách thức cho điều hành chính sách tiền tệ. Bài viết phân tích định hướng của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PboC) và rút ra một số hàm ý tham khảo cho Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá và phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô.
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất mô hình kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa nhằm tối ưu phễu chuyển đổi khách hàng (mô hình mô phỏng hành trình của một khách hàng từ lúc lần đầu biết đến thương hiệu cho đến khi thực hiện hành động mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ) tại ngân hàng thương mại, qua đó giảm chi phí thu hút, rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng.
Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đang được triển khai thí điểm, thế hệ Z với lợi thế về khả năng tiếp cận công nghệ lại đứng trước nhiều rủi ro đan xen, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực tài chính số và xây dựng cơ chế bảo vệ khi tham gia thị trường.