Củng cố niềm tin xã hội - Nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ 1)
Kỳ 1. Niềm tin xã hội và thực tiễn khách quan
Niềm tin xã hội là cụm danh từ được ghép bởi hai từ: niềm tin và xã hội. Trong đó, niềm tin là một "khái niệm đa nghĩa, trừu tượng, phức tạp", không chỉ là một trạng thái cảm xúc, mà là sự tin tưởng, kỳ vọng hoặc chấp nhận một điều gì đó là đúng, có giá trị, bất kể có hay không có bằng chứng rõ ràng. Niềm tin của con người được hình thành qua quá trình tích lũy kinh nghiệm sống, giáo dục và văn hóa, môi trường xã hội, nhận thức và cảm xúc. Yếu tố văn hóa và giáo dục là những căn cứ quan trọng nhất tạo nên sự khác biệt niềm tin của mỗi con người. Xã hội là “sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” [t.27, tr.657], “là biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân” [t.46, tr.355].
Niềm tin xã hội là một trong những yếu tố quyết định bản chất các mối quan hệ xã hội, là chất keo kết dính các mối quan hệ xã hội. Một quốc gia, dân tộc muốn phát triển thì phải tạo lập được niềm tin trong xã hội về mục tiêu chung - niềm tin giữa con người với nhau; niềm tin giữa cá nhân với tập thể, tổ chức; niềm tin của doanh nghiệp, tổ chức, người dân vào hệ thống chính trị, thể chế, luật pháp, đội ngũ công chức thực thi và vận hành quyền lực nhà nước;... Niềm tin đó phải dựa trên sự trung thực, thống nhất, chân thành trong tư duy, lời nói và hành động của mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Khi có niềm tin, con người sẽ chủ động năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm để vượt qua khó khăn, biến mơ ước thành hiện thực, xây dựng mối quan hệ hài hòa, tiến bộ giữa người với người.
Dưới góc độ chính trị - xã hội, niềm tin xã hội là mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước, với chế độ. Xây dựng và củng cố niềm tin xã hội là xây dựng, củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước thông qua hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm tạo sự đồng thuận, đoàn kết trong xã hội để hiện thực hóa mục tiêu “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” [t.1, tr.44].
Lịch sử hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh, từ thời Vua Hùng dựng nước, khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 - đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, nếu có niềm tin, sự đoàn kết, ủng hộ của Nhân dân thì “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [t.11, tr.350]; đồng thời, khi niềm tin của Nhân dân về triều đại, chính quyền không còn, sớm hay muộn triều đại, chính quyền đó sẽ sụp đổ.
![]() |
| Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI. Ảnh tư liệu |
Niềm tin của Nhân dân không tự dưng mà có, cũng không phải là khẩu hiệu chính trị hay cảm xúc nhất thời, mà là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài, được kiểm chứng bằng thực tiễn cách mạng và thành tựu trong xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước. Là một người con ưu tú của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc điều này. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, muốn cho dân tin, muốn được lòng dân, Đảng phải thực hành "việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh" [t.4, tr.47]. Người khẳng định, vấn đề quan trọng bậc nhất trong xây dựng niềm tin của Nhân dân đối với Đảng là lợi ích. Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và các thế hệ mai sau, với trái tim chứa chan tình yêu thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân" [t.5, tr. 622].
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng máy cấy lúa cải tiến tại Trại Thí nghiệp trồng lúa, Sở Nông lâm Hà Nội ngày 16-7-1960 |
Xuyên suốt quá trình lãnh đạo đất nước, nhất là thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng xây dựng, củng cố niềm tin xã hội của Nhân dân. Đại hội VI của Đảng yêu cầu “Khẩu hiệu “Dân tin Đảng, Đảng tin dân” phải được thực hiện hằng ngày trong cuộc sống thông qua những việc làm cụ thể”; phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu khóa XII, đồng chí nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Tại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp” [t.1, tr.39].
![]() |
| Tổng Bí thư Tô Lâm báo cáo về các văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng tại phiên khai mạc, sáng 20-1-2026. Ảnh: TTXVN |
Trong quản lý và phát triển đất nước, xây dựng, củng cố và phát huy vai trò của niềm tin xã hội đóng vai trò sống còn đối với sự ổn định chính trị và sự phát triển bền vững của đất nước. Niềm tin xã hội không chỉ là vấn đề mang ý nghĩa chính trị - xã hội mà còn là thước đo quan trọng phản ánh hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng quản trị quốc gia. Niềm tin của Nhân dân đối với nhà nước phải bắt nguồn từ sự liêm chính của công chức và hệ thống luật pháp công bằng, đầy đủ và nghiêm minh. Việc xử lý nghiêm minh tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và kỷ luật cán bộ cấp cao trong thời gian qua cũng là bảo vệ sự trung thực, tạo niềm tin cho Nhân dân. Như vậy, nếu Đảng lãnh đạo mang lại lợi ích thiết thực cho dân, dân ấm no, hạnh phúc sẽ làm cho dân tin Ðảng, tin chế độ.
(Kỳ 2. Nhận diện biểu hiện suy giảm niềm tin xã hội hiện nay)
Tin liên quan
Tin khác
Ứng dụng Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter trong quản trị chiến lược các tổ chức tín dụng tại Việt Nam
Triển khai IFRS 9 trong ngân hàng: Kinh nghiệm từ Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia và hàm ý đối với Việt Nam
Phát huy vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hỗ trợ hoạt động xuất - nhập khẩu
Chính sách tiền tệ Trung Quốc trước bài toán cầu yếu, giảm phát và tỷ giá: Hàm ý đối với Việt Nam
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại






