banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 12/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.621 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.390/26.852 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Củng cố niềm tin xã hội - Nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ 2)

Niềm tin xã hội đã góp phần quan trọng giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thách thức, khó khăn và được kiểm chứng bằng thực tế. Tuy nhiên, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, đặt ra nhiều thách thức mới, vấn đề mới. Bên cạnh đó, niềm tin xã hội của một bộ phận Nhân dân biến đổi phức tạp, có xu hướng giảm sút. Vì vậy, nhận diện, phân tích, đánh giá biểu hiện suy giảm niềm tin xã hội hiện nay sẽ góp phần đề ra phương hướng, giải pháp khắc phục, củng cố, nâng cao niềm tin xã hội của Nhân dân đối với Đảng và hệ thống chính trị.
aa

Kỳ 2. Nhận diện biểu hiện suy giảm niềm tin xã hội hiện nay

Niềm tin xã hội đã soi đường, dẫn dắt dân tộc ta giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX, từ Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, chiến đấu bảo vệ biên giới, đến công cuộc đổi mới và hội nhập ngày nay. Tuy nhiên, những bất cập, hạn chế nội tại của đất nước cùng những tác động mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế đã và đang làm niềm tin xã hội biến đổi một cách phức tạp, tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên, người lao động và Nhân dân (viết tắt là Nhân dân). Ở một số trường hợp nhất định, một bộ phận Nhân dân có biểu hiện suy giảm niềm tin, thờ ơ, hoài nghi, không quan tâm đến các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.

Trong một đất nước, nếu niềm tin xã hội suy giảm thì: (iii) Các thế lực thù địch, phản động có cơ hội, mảnh đất màu mỡ để xuyên tạc, chống phá, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. (ii) Kinh tế - xã hội sẽ phát triển chậm lại do gia tăng chi phí phòng ngừa rủi ro, thu hẹp sản xuất kinh doanh; người dân sẽ găm giữ một lượng lớn tài sản, vốn ở dạng vàng, ngoại tệ. (iii) Kinh tế ngầm, kinh tế bất hợp pháp có dư địa để tồn tại và phát triển do một bộ phận người dân không tin vào sự minh bạch của luật pháp. Họ cho rằng kinh tế phi chính thức tuy có rủi ro nhưng không rủi ro bằng sự thay đổi khó lường của luật pháp và sự nhũng nhiễu, tiêu cực của một bộ phận công chức, viên chức.

Một số biểu hiện suy giảm niềm tin xã hội hiện nay:

Một là, niềm tin xã hội trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta rất quan tâm và coi trọng công tác xây dựng Đảng, nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng được ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, đi vào cuộc sống đã tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng vẫn còn không ít hạn chế, khuyết điểm, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, chậm được khắc phục, cụ thể: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty” [Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016, tr.2]. Trong 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", biểu hiện hàng đầu của sự suy thoái đó là: "Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh"; "Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái"; “Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện "đa nguyên, đa đảng"; “Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự"; “Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai”;... [Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016, tr.5, tr.7]. Bên cạnh đó, Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, không dám làm, không dám đổi mới sáng tạo, phai nhạt lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm những điều đảng viên không được làm, vi phạm pháp luật" [t.1, tr.68].

Những tồn tại đó đã làm xói mòn bản chất của Đảng, làm giảm sút phẩm chất, vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Hai là, niềm tin xã hội vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Sau hơn 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt là trong 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn, đáng tự hào, tạo được niềm tin xã hội lớn. Nền kinh tế Việt Nam đã hình thành nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh. Các chủ thể kinh tế tự do kinh doanh, đóng góp vào sự phát triển và khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân. Kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, “Quản lý, khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực, tài sản của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả, chưa gắn với yêu cầu hạch toán kinh tế đầy đủ, còn lãng phí, thất thoát. Các doanh nghiệp nhà nước - lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ; chưa đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu” [Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026, tr.1]. “Hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp của nhiều doanh nghiệp nhà nước còn thấp; nợ nần, thua lỗ, thất thoát lớn” [Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017, tr.2].

Bên cạnh đó, giữa lúc các nước phát triển kinh tế thị trường đạt được những thành tựu nhất định, ở nước ta, do vi phạm quy luật khách quan, tính biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin khi vận dụng, tạo nên những yếu kém trong xây dựng chủ nghĩa xã hội đã làm cho không ít người cho rằng nguyên nhân của những sai lầm, yếu kém đó là do chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và bàn thảo, tranh luận. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thừa cơ xuyên tạc, chống phá với hai quan điểm chính: (i) Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản là trái quy luật, là duy ý chí nên chỉ thất bại; (ii) Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa xã hội. Trong chúng ta, có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân sụp đổ đó là do sai lầm của chủ nghĩa Mác-Lênin, của chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng, cần phải đi con đường khác.

Ba là, niềm tin xã hội trong xây dựng và thi hành pháp luật

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, cơ bản điều chỉnh các lĩnh vực đời sống xã hội; tạo nền tảng pháp lý cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, bảo vệ các quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước, ngày càng tương thích với các nguyên tắc, chuẩn mực của các điều ước quốc tế. Tuy nhiên, chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Tính ổn định của pháp luật thấp, thường xuyên phải sửa đổi, bổ sung. Chậm nghiên cứu, ban hành chính sách, pháp luật điều chỉnh những vấn đề mới, chưa tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới [Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025, tr.1]. Hiệu quả khâu đánh giá tác động của chính sách, pháp luật, lấy ý kiến, phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chưa cao. Sự cồng kềnh, nhiều tầng nấc, mâu thuẫn, chồng chéo [Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025, tr.1] khiến cho pháp luật có hiệu lực và hiệu quả điều chỉnh thấp. Đồng thời, các mâu thuẫn, chồng chéo cũng là những lực cản trong thực hiện pháp luật, làm giảm niềm tin vào pháp luật.

Ngoài ra, một số mặt trong đời sống kinh tế - xã hội có sự cố ý làm trái, lộ lọt thông tin,... của một số cán bộ quản lý nhà nước; thậm chí, dữ liệu - nền tảng của quyết định quản lý của Nhà nước - bị thao túng, can thiệp, chỉnh sửa (vụ án đăng kiểm; vụ án về gian lận dữ liệu môi trường; vụ án tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương;...). Khi có sự tiếp tay, dù trực tiếp hay gián tiếp, ở nơi có trách nhiệm bảo vệ pháp luật, toàn bộ hệ thống kiểm soát có thể bị vô hiệu hóa. Khi đó, thứ bị tổn thương là niềm tin vào hiệu lực thực thi pháp luật; niềm tin của người dân, nhất là người yếu thế vào công cụ bảo vệ họ; niềm tin của doanh nghiệp vào một môi trường cạnh tranh công bằng; niềm tin vào sự nghiêm minh của cơ chế kiểm soát. Đồng thời, việc khôi phục lại sự minh bạch của thị trường và uy tín của hệ thống thực thi đòi hỏi tốn kém nhiều chi phí, công sức, thời gian của hệ thống chính trị.

Bốn là, niềm tin xã hội vào văn hóa, đạo đức xã hội

Sự gia tăng các loại tội phạm, nhất là tội phạm trong thanh thiếu niên và tội phạm an ninh phi truyền thống, với mức độ nguy hiểm và manh động hơn đang làm cho cuộc sống trở nên bất an. Văn hóa - đạo đức - giáo dục - y tế có biểu hiện xuống cấp, nhiều báo động; con người sống trong sự hoài nghi, đề phòng, cảnh giác, thiếu chân thật với nhau khiến niềm tin xã hội bị lung lay.

Một bộ phận doanh nghiệp coi lợi nhuận là mục tiêu tối thượng thay vì giá trị nhân văn, văn hóa kinh doanh, đạo đức kinh doanh, đã bất chấp quy định pháp luật, tính mạng con người, môi trường sống. Hiện tượng sản xuất hàng hóa kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái, không đảm bảo an toàn diễn ra khá phổ biến. Những hành vi kinh doanh chộp giật, lừa dối, chặt chém, phá giá, làm giả thương hiệu, sử dụng thông tin sai lệch,… vẫn diễn ra, gây ra lo lắng, mất tin tưởng đối với hàng hóa, dịch vụ trong nước, dẫn tới khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ Việt Nam yếu so với hàng hóa, dịch vụ của các nước khác ngay trên đất nước ta. Một bộ phận doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm xã hội, tinh thần dân tộc thấp, còn vi phạm pháp luật, cấu kết với cán bộ suy thoái, chạy theo lợi ích cá nhân, gây thiệt hại cho Nhà nước, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân.

Trong lĩnh vực giáo dục, nơi được xem là môi trường tốt nhất để bảo tồn, phát triển các giá trị nền tảng xã hội, hiện tượng tiêu cực, bệnh hình thức, bệnh thành tích còn phổ biến; bạo lực học đường không chỉ diễn ra trong trường học mà còn lan rộng ra ngoài và trên mạng xã hội trong bối cảnh những người đứng xem cười, quay clip, cổ vũ đã gây bức xúc, hoang mang trong xã hội. Trong lĩnh vực y tế, nơi “Lương y như từ mẫu” đã trở thành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, những sai phạm liên quan đến lĩnh vực xây dựng, đầu tư, mua sắm thuốc, vật tư, trang thiết bị y tế, những vụ việc vi phạm pháp luật, trục lợi trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, dược và thực phẩm,… gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Sự phát triển của mạng xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá nhân, đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin nhanh chóng nhưng nhiều thông tin, nội dung rất khó kiểm chứng, khó phân biệt đúng sai, giật gân, phản cảm, dung tục, kích động bạo lực, cổ xúy lối sống hưởng thụ, đề cao vật chất, xem nhẹ chuẩn mực đạo đức ngày càng phổ biến đã làm cho nhiều người bị cuốn vào sự “phán xét đồng loại” một cách vô thức. Không ít KOLs, KOC, nghệ sỹ, gương mặt có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng - một dạng “trung gian truyền thông” mới trong hệ sinh thái số - lợi dụng uy tín cá nhân để quảng cáo sai sự thật, tiếp tay cho hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người tiêu dùng. Có trường hợp phát ngôn tùy tiện, thiếu trách nhiệm xã hội, thậm chí vi phạm pháp luật.

Củng cố niềm tin xã hội - Nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ 2)
Nhiều KOLs, KOC quảng cáo lố sản phẩm đã bị xử lý.

Từ một số vấn đề nêu trên, sự suy giảm niềm tin xã hội trong Nhân dân cần được cơ quan quản lý nhà nước nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện, tổng thể, khoa học trên các mặt đời sống kinh tế - chính trị - xã hội để kịp thời đề ra những giải pháp, biện pháp khắc phục.

(Kỳ 3: Giữ vững niềm tin xã hội của nhân dân)

Nguyễn Sỹ Nam Hiệp - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam

Tin liên quan

Tin khác

Ứng dụng Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter trong quản trị chiến lược các tổ chức tín dụng tại Việt Nam

Ứng dụng Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter trong quản trị chiến lược các tổ chức tín dụng tại Việt Nam

Bài viết nghiên cứu về Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter trên cơ sở tài liệu hướng dẫn của Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc (ACCA). Qua phân tích hướng dẫn và liên hệ với thực tiễn hiện nay của thị trường tài chính Việt Nam, bài viết đưa ra một số luận điểm để áp dụng về Mô hình Năm áp lực cạnh tranh trong quản trị của các tổ chức tín dụng (TCTD).
Triển khai IFRS 9 trong ngân hàng: Kinh nghiệm từ Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia và hàm ý đối với Việt Nam

Triển khai IFRS 9 trong ngân hàng: Kinh nghiệm từ Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia và hàm ý đối với Việt Nam

Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 9 không chỉ thay đổi cách thức ghi nhận và đo lường tổn thất tín dụng mà còn đặt ra yêu cầu toàn diện về dữ liệu, mô hình, quản trị và giám sát tại các ngân hàng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc triển khai chuẩn mực này, đặc biệt là mô hình tổn thất tín dụng dự kiến (ECL), góp phần nhận diện sớm rủi ro, nâng cao tính minh bạch của báo cáo tài chính và tăng cường khả năng chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc kinh tế.
Phát huy vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hỗ trợ hoạt động xuất - nhập khẩu

Phát huy vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hỗ trợ hoạt động xuất - nhập khẩu

Năm 2026 mở đầu cho Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2026 - 2030, trong đó có yêu cầu phát huy hiệu quả các động lực từ công nghiệp, thương mại và xuất - nhập khẩu. Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động xuất - nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động, đồng thời làm rõ vai trò của hệ thống ngân hàng trong cung ứng tín dụng, điều hành tỉ giá, bảo đảm thanh khoản và phát triển hạ tầng thanh toán số. Trên cơ sở đó, bài viết nhấn mạnh yêu cầu phối hợp giữa chính sách công thương và chính sách tiền tệ nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ Trung Quốc trước bài toán cầu yếu, giảm phát và tỷ giá: Hàm ý đối với Việt Nam

Chính sách tiền tệ Trung Quốc trước bài toán cầu yếu, giảm phát và tỷ giá: Hàm ý đối với Việt Nam

Kinh tế Trung Quốc dù duy trì tăng trưởng nhưng đang đối mặt với sức cầu nội địa yếu, giảm phát, bất động sản suy giảm và biến động Nhân dân tệ, đặt ra thách thức cho điều hành chính sách tiền tệ. Bài viết phân tích định hướng của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PboC) và rút ra một số hàm ý tham khảo cho Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá và phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô.
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất mô hình kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa nhằm tối ưu phễu chuyển đổi khách hàng (mô hình mô phỏng hành trình của một khách hàng từ lúc lần đầu biết đến thương hiệu cho đến khi thực hiện hành động mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ) tại ngân hàng thương mại, qua đó giảm chi phí thu hút, rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng.
Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đang được triển khai thí điểm, thế hệ Z với lợi thế về khả năng tiếp cận công nghệ lại đứng trước nhiều rủi ro đan xen, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực tài chính số và xây dựng cơ chế bảo vệ khi tham gia thị trường.