Chỉ số kinh tế:
Ngày 26/8/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.611 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.381/26.841 đồng/USD. Tháng 7/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; bảy tháng năm 2026 tăng 11,4%, là mức tăng cao nhất của bảy tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua, tăng ở cả 34 địa phương; số lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Bảy tháng năm 2026 có 187,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,5%; 155,3 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39,0% kế hoạch năm và tăng 18,4%; tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8%; tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Thu ngân sách Nhà nước đạt 1.834,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán năm và tăng 16,0%; chi ngân sách Nhà nước đạt 1.364,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán năm và tăng 7,7%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1%, trong đó xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%; nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%; nhập siêu 20,52 tỷ USD; Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 104,7 tỷ USD, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch 138,6 tỷ USD. CPI bảy tháng tăng 4,39%; lạm phát cơ bản tăng 4,19%; vận tải hành khách tăng 18,0%; vận tải hàng hóa tăng 14,9%; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Củng cố, phát triển hệ thống QTDND: Cần thực hiện đồng bộ, toàn diện, cẩn trọng phù hợp đặc thù

Minh Ngọc- Hoàng Giáp
Minh Ngọc- Hoàng Giáp  - 
Trải qua hơn ba thập kỷ hình thành và phát triển, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã từng bước được củng cố, mở rộng và khẳng định vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn, dịch vụ ngân hàng trên địa bàn nông thôn. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống QTDND cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế. Vì vậy để tiếp sức cho hệ thống phát triển cần củng cố đồng bộ, toàn diện dựa trên các nguyên tắc thận trọng, minh bạch, phù hợp với đặc thù mô hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã.
aa

Chậm chuyển mình, QTDND nguy cơ mất lợi thế

Hệ thống QTDND tại Việt Nam được thành lập từ năm 1993 với mục tiêu cốt lõi là huy động nguồn lực trong cộng đồng để tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên, đặc biệt tại khu vực nông thôn - nơi người dân còn gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính chính thức. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; sự chỉ đạo quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN); cùng sự phối hợp của các bộ, ngành và chính quyền địa phương, hệ thống QTDND đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.

Xây dựng chiến lược để tái định vị vai trò, mở rộng cộng đồng thành viên, tập trung phục vụ thành viên, bao gồm cả nhóm khách hàng yếu thế, người có thu nhập thấp, người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa  là hướng đi phù hợp với sứ mệnh, thế mạnh truyền thống của QTDND và góp phần thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện, lấy người dân làm trung tâm.
Xây dựng chiến lược để tái định vị vai trò, mở rộng cộng đồng thành viên, tập trung phục vụ thành viên, bao gồm cả nhóm khách hàng yếu thế, người có thu nhập thấp, người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa là hướng đi phù hợp với sứ mệnh, thế mạnh truyền thống của QTDND và góp phần thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện, lấy người dân làm trung tâm.

Tính đến ngày 31/12/2025, hệ thống QTDND có gần 1.180 QTDND, trong đó, 26 QTDND có tổng tài sản trên 500 tỷ đồng, 319 QTDND có tổng tài sản từ 200 tỷ đồng đến dưới 500 tỷ đồng. Hệ thống QTDND hoạt động tại 31 tỉnh, thành phố, với gần 2 triệu thành viên với Tổng tài sản đạt khoảng 203 nghìn tỷ đồng, Tiền gửi của khách hàng khoảng 178 nghìn tỷ đồng và dư nợ cho vay khoảng 147 nghìn tỷ đồng. Nhìn chung, hệ thống QTDND có mức tăng trưởng ổn định. Mặc dù quy mô còn khiêm tốn so với toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), song QTDND có ý nghĩa đặc biệt trong thúc đẩy tài chính toàn diện, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống người dân, qua đó góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới và hỗ trợ an sinh xã hội.

Phát biểu tại Hội thảo quốc tế “Củng cố, nâng cao vai trò của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trong nền kinh tế và khu vực kinh tế tập thể” mới đây, Cục trưởng Cục Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể, Bộ Tài chính, Bùi Anh Tuấn nhấn mạnh “Kinh tế tập thể (KTTT), nòng cốt là hợp tác xã (HTX), là một thành phần kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam”. Nghị quyết số 20-NQ/TW năm 2022 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển KTTT là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xuất phát từ nhu cầu thiết thực, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho thành viên sản xuất kinh doanh hiệu quả, phát triển bền vững”. Trong đó riêng Quỹ tín dụng nhân dân (mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tín dụng), Chiến lược phát triển KTTT, HTX giai đoạn 2021-2030 cũng xác định QTDND là một trong những thành tố then chốt nhằm thúc đẩy tài chính phục vụ khu vực KTTT, hỗ trợ các HTX phát triển sản xuất hàng hóa.

Tuy nhiên, chia sẻ tại Hội thảo quốc tế “Củng cố, nâng cao vai trò của hệ thống QTDND trong nền kinh tế và khu vực kinh tế tập thể” ông Hoàng Việt Dũng - Phó Cục trưởng Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ ra bên cạnh những kết quả tích cực, qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát cho thấy hệ thống QTDND cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế.

Đó là một bộ phận QTDND có biểu hiện phát triển chưa phù hợp với tôn chỉ, mục đích hoạt động của loại hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã, thiên về mục tiêu lợi nhuận đơn thuần, chưa bám sát mục tiêu hoạt động, chưa quan tâm, chăm lo đúng mức đến lợi ích của thành viên.

Bộ máy quản trị, điều hành, kiểm soát và kiểm toán nội bộ tại một số QTDND còn yếu, trong đó vấn đề về rủi ro đạo đức của cán bộ vẫn là nguy cơ tiềm ẩn lớn nhất ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của QTDND.

Quy mô hoạt động của nhiều QTDND còn khiêm tốn; sản phẩm, dịch vụ còn chưa đa dạng; hệ thống công nghệ thông tin lạc hậu; liên kết hệ thống giữa QTDND và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) chưa thực sự chặt chẽ. Công tác xử lý QTDND yếu kém còn gặp khó khăn.

Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp xã cũng làm phát sinh tình trạng chồng lấn địa bàn hoạt động của một số QTDND, đặt ra yêu cầu phải có giải pháp cơ cấu lại phù hợp.

Bên cạnh đó, xu hướng số hóa làm thay đổi mạnh mẽ hành vi người dùng, đặc biệt là thế hệ trẻ - những người ưu tiên trải nghiệm tài chính nhanh chóng, liền mạch, cá nhân hóa và dễ dàng truy cập qua thiết bị di động, đồng thời xu hướng phát triển mạnh mẽ của fintech, mobile banking với khả năng tiếp cận linh hoạt tới khách hàng đặt QTDND trước nguy cơ mất lợi thế về địa bàn, thu hẹp thị phần và suy giảm hiệu quả hoạt động, từng bước dẫn đến yếu kém.

Cần sự quyết tâm tái cơ cấu của chính các QTDND

Khó khăn, thách thức là thế, song hiện nhiều QTDND chưa nhận thức và chủ động xây dựng chiến lược để tái định vị vai trò, mở rộng cộng đồng thành viên - vốn là nền tảng cốt lõi của mô hình hợp tác xã tập trung phục vụ thành viên, bao gồm cả nhóm khách hàng yếu thế, người có thu nhập thấp, người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa là những khách hàng ít được các tổ chức lớn quan tâm. Trong khi đó, Phó Cục trưởng Hoàng Việt Dũng nhận định đây là hướng đi phù hợp với sứ mệnh, thế mạnh truyền thống của QTDND và góp phần thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện, lấy người dân làm trung tâm.

Củng cố, phát triển hệ thống QTDND: Cần thực hiện đồng bộ, toàn diện, cẩn trọng phù hợp đặc thù
Cần tăng cường liên kết hệ thống với Co-opBank làm trung tâm; từng bước xây dựng cơ chế, hệ sinh thái dùng chung cho toàn bộ hệ thống QTDND…

Phát biểu tại hội thảo, nhiều QTDND cũng thừa nhận những thách thức này và cho biết nếu không được củng cố kịp thời, vai trò của quỹ có thể bị thu hẹp trong dài hạn.

Đồng thuận với quan điểm này, song Phó Cục trưởng Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hoàng Việt Dũng cho biết “Trước những tồn tại, hạn chế và nguy cơ mà các QTDND đang phải đối mặt, việc triển khai các giải pháp để củng cố, phát triển hệ thống QTDND cần được thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện và dựa trên các nguyên tắc thận trọng, minh bạch, phù hợp với đặc thù mô hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã”.

Đại diện đến từ Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng cũng chia sẻ 5 giải pháp dự kiến cơ bản để cùng cổ phát triển hệ thống QTDND.

Một là, về khuôn khổ pháp lý, cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống QTDND, các cơ chế, chính sách điều chỉnh hệ thống QTDND cũng từng bước được xây dựng và hoàn thiện. Trong năm 2025 vừa qua, trên cơ sở quy định tại Luật Các TCTD và định hướng về cơ cấu lại hệ thống QTDND, NHNN đã ban hành 10 thông tư sửa đổi, bổ sung, thay thế quy định về cấp phép, mạng lưới, hoạt động, kiểm soát nội bộ… của Co-opBank và QTDND. Các quy định mới này đã góp phần khắc phục một số bất cập từ thực tiễn hoạt động; tăng cường tính liên kết hệ thống QTDND, khẳng định vai trò trung tâm của Co-opBank trong việc hỗ trợ các QTDND hoạt động an toàn, hiệu quả… qua đó đã góp phần tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng cho hệ thống QTDND hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, an toàn, ổn định và bền vững, hỗ trợ thành viên, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

“Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống QTDND đứng trước yêu cầu phải cơ cấu lại để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, khuôn khổ pháp lý phải ngày càng tiệm cận thông lệ quốc tế và phù hợp với định hướng quản lý nhà nước đối với sự phát triển của hệ thống QTDND”, Phó Cục trưởng Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng Hoàng Việt Dũng nhấn mạnh.

Năm 2026 và thời gian tới, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn cho Co-opBank, QTDND nhằm điều chỉnh toàn diện và phù hợp với đặc thù hoạt động trong đó, tăng cường liên kết hệ thống với Co-opBank làm trung tâm; từng bước xây dựng cơ chế, hệ sinh thái dùng chung cho toàn bộ hệ thống QTDND… Đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc sắp xếp, cơ cấu lại các QTDND (nhất là các QTDND yếu kém, QTDND có quy mô quá nhỏ, không có khả năng tồn tại bền vững), đảm bảo mỗi đơn vị hành chính cấp xã chỉ có tối đa 01 QTDND hoạt động để tránh các rủi ro phát sinh từ cạnh tranh nội khối...

Hai là cần tiếp tục tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý đối với quá trình sắp xếp lại QTDND và hoạt động của các QTDND để kịp thời cảnh báo rủi ro, ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ tiềm ẩn rủi ro, xử lý các hành vi sai phạm, áp dụng can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, không để các yếu kém kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát.

Ba là tiếp tục tập trung nâng cao năng lực quản trị, điều hành, năng lực tài chính của từng QTDND, tăng cường liên kết hệ thống. Trong đó Co-opBank, QTDND phải nâng cao nhận thức và cam kết thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, tuân thủ các nguyên tắc, quy định của hệ thống và chủ trương, chính sách của nhà nước; quan tâm, chăm sóc thành viên thực chất, tích lũy nội lực để tăng vốn điều lệ. Đồng thời phát huy tinh thần tương trợ, cùng nhau xây dựng các cơ chế, quy định của hệ thống, nâng cao hiệu quả điều hòa vốn, quản lý sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND...

Bốn là cần tiếp tục tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN và các bộ, ngành, chính quyền địa phương, Hiệp hội QTDND, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách, hỗ trợ xử lý QTDND yếu kém và tuyên truyền sâu rộng về bản chất, giá trị tốt đẹp của mô hình HTX trong lĩnh vực tài chính.

Năm là tăng cường sự hỗ trợ của các Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố có liên quan thông qua việc nghiên cứu, xem xét thực hiện các giải pháp nhằm hỗ trợ hoạt động của hệ thống QTDND và Co-opBank như: Xem xét tăng vốn cho Co-opBank từ nguồn Ngân sách nhà nước; Xem xét có chính sách ưu tiên, dành quỹ đất, trụ sở dôi dư từ quá trình sắp xếp đơn vị hành chính cho các QTDND, Co-opBank thuê, mua theo quy định; Nghiên cứu, xem xét miễn thuế thu nhập từ lợi tức góp vốn của thành viên, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức tín dụng là HTX để có nguồn lực hỗ trợ thành viên, cộng đồng; Chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành có hiệu quả bản án, quyết định có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật; Thành lập Ban chỉ đạo sắp xếp lại các QTDND trên địa bàn phù hợp với phương án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã;…

"Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc củng cố, phát triển hệ thống QTDND có ý nghĩa chiến lược, sống còn. Giữ vững giá trị cốt lõi “tương trợ thành viên”, nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm an toàn hệ thống và tăng cường liên kết nội khối sẽ là nền tảng để QTDND tiếp tục phát huy vai trò là định chế tài chính vì cộng đồng, gắn bó chặt chẽ với địa bàn hoạt động" Phó Cục trưởng Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng Hoàng Việt Dũng nhấn mạnh.

Với sự hoàn thiện và đồng bộ của khuôn khổ pháp lý, sự quyết tâm tái cơ cấu, củng cố của hệ thống QTDND và sự hỗ trợ chặt chẽ từ các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương cùng các đối tác quốc tế, trong thời gian tới, hệ thống QTDND sẽ tiếp tục phát triển an toàn, lành mạnh và bền vững, qua đó đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và tài chính toàn diện, ổn định hệ thống tài chính quốc gia và nâng cao đời sống người dân, đặc biệt tại địa bàn nông thôn.

Minh Ngọc- Hoàng Giáp

Tin liên quan

Tin khác

Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Đầu ra thiếu ổn định, sản xuất nhỏ lẻ, liên kết với doanh nghiệp chưa bền vững và khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế đang là những “nút thắt” của nông nghiệp Đà Nẵng. Thành phố đang tìm cách đưa khoa học công nghệ, chuyển đổi số đến gần hơn với nông dân, đồng thời tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh dựa vào sản lượng và xuất khẩu, thủy sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển sang mô hình tạo giá trị cao hơn. Công nghệ, chế biến sâu, minh bạch chuỗi cung ứng và khai thác thị trường gần 100 triệu dân được xem là những động lực quan trọng để ngành hướng tới mục tiêu xuất khẩu 12 tỷ USD và tăng trưởng bền vững.
Ngành chăn nuôi: Lợi thế cạnh tranh phía sau việc gắn mã QR

Ngành chăn nuôi: Lợi thế cạnh tranh phía sau việc gắn mã QR

Truy xuất nguồn gốc đang dần trở thành một tiêu chuẩn cạnh tranh mới của ngành chăn nuôi. Nhưng để một mã QR thực sự tạo thêm giá trị cho sản phẩm, phía sau đó phải là cả một chuỗi sản xuất được kiểm soát, kết nối dữ liệu và quan trọng hơn, có đầu ra ổn định.
Sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD: Cơ hội lớn, áp lực chuẩn hóa chuỗi càng cao

Sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD: Cơ hội lớn, áp lực chuẩn hóa chuỗi càng cao

Xuất khẩu sầu riêng tiếp tục tăng mạnh trong khi vụ thu hoạch lớn tại Tây Nguyên mới bước vào chính vụ. Cánh cửa thị trường Ấn Độ vừa mở thêm dư địa tăng trưởng, nhưng để tiến tới mốc 4 tỷ USD, doanh nghiệp không chỉ cần thêm thị trường mà còn phải kiểm soát chặt vùng nguyên liệu, chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Đà Nẵng phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Đà Nẵng phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Sau 10 năm triển khai Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", Đà Nẵng huy động hiệu quả sức mạnh của cả hệ thống chính trị và người dân, tạo nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa và giữ vững an ninh trật tự ở cơ sở.
Nông nghiệp muốn đi xa, cơ giới hóa phải bắt nhịp cùng tổ chức sản xuất

Nông nghiệp muốn đi xa, cơ giới hóa phải bắt nhịp cùng tổ chức sản xuất

Cơ giới hóa đang trở thành một trong những động lực quan trọng để nông nghiệp Việt Nam nâng năng suất, giảm chi phí và tiến gần hơn tới sản xuất hiện đại. Nhưng đằng sau những con số tăng trưởng về máy móc vẫn còn một nghịch lý là nơi đã cơ giới hóa cao thì chưa đồng bộ, nơi cần cơ giới hóa mạnh lại thiếu máy móc phù hợp. Nếu không giải được bài toán này, đầu tư công nghệ rất dễ rơi vào tình trạng “có máy nhưng chưa tạo ra giá trị”.
Đơn giản hóa TTHC về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Đơn giản hóa TTHC về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Mã số vùng trồng dẫn dắt liên kết sản xuất để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản

Mã số vùng trồng dẫn dắt liên kết sản xuất để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản

Trong nhiều năm qua, ở không ít địa phương, hành trình đưa nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới thường bắt đầu bằng việc thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc xây dựng vùng sản xuất tập trung. Đây được xem là điều kiện để đáp ứng các yêu cầu về cấp mã số vùng trồng được ví như tấm "hộ chiếu" bắt buộc đối với nhiều thị trường xuất khẩu.
TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp đô thị đạt 700 triệu đồng/ha/năm

TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp đô thị đạt 700 triệu đồng/ha/năm

UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Chương trình phát triển nông nghiệp đô thị giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa giá trị sản xuất bình quân canh tác nông nghiệp đô thị đạt 700 triệu đồng/ha/năm. Mô hình phát triển tập trung vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn, sinh thái, sản xuất theo chuỗi giá trị và chuyển đổi số.
Doanh nghiệp nông nghiệp cần thêm động lực từ vốn và chính sách

Doanh nghiệp nông nghiệp cần thêm động lực từ vốn và chính sách

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng trưởng tích cực nhưng số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp vẫn còn rất khiêm tốn. Theo các chuyên gia, để nông nghiệp thực sự trở thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, cần đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, hạ tầng, logistics, nhân lực và mở rộng khả năng tiếp cận dòng vốn tín dụng trung, dài hạn, đặc biệt là tín dụng xanh.