banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 12/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.621 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.390/26.852 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Mã số vùng trồng dẫn dắt liên kết sản xuất để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản

Đức Hiền
Đức Hiền  - 
Trong nhiều năm qua, ở không ít địa phương, hành trình đưa nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới thường bắt đầu bằng việc thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc xây dựng vùng sản xuất tập trung. Đây được xem là điều kiện để đáp ứng các yêu cầu về cấp mã số vùng trồng được ví như tấm "hộ chiếu" bắt buộc đối với nhiều thị trường xuất khẩu.
aa
Hình ảnh minh họa được tạo bởi AI
Hình ảnh minh họa được tạo bởi AI - Nguồn dữ liệu: Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật

Những mô hình này đã mang lại những kết quả tích cực. Nhiều vùng nguyên liệu được hình thành, sản xuất từng bước chuyển từ nhỏ lẻ sang liên kết, tạo nền tảng để nâng cao chất lượng và giá trị nông sản. Tuy nhiên, khi các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn, cách tiếp cận ấy đang bộc lộ những hạn chế và cần được thay đổi theo hướng lấy nhu cầu của thị trường làm động lực.

Thực tế cho thấy, không phải mọi hợp tác xã sau khi được thành lập đều hoạt động hiệu quả. Không ít nơi liên kết chỉ tồn tại để hoàn thiện hồ sơ xin cấp mã số vùng trồng, trong khi tính bền vững của chuỗi sản xuất chưa cao. Khi lợi ích kinh tế chưa đủ lớn, người dân vẫn dễ quay trở lại phương thức sản xuất riêng lẻ, khiến việc duy trì tiêu chuẩn vùng nguyên liệu gặp nhiều khó khăn.

Ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, đã đến lúc thay đổi tư duy. Không phải liên kết để được cấp mã số vùng trồng, mà chính mã số vùng trồng phải trở thành động lực để người dân chủ động liên kết. Cánh cửa xuất khẩu chỉ mở ra với những vùng sản xuất đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, nông dân sẽ tự tìm đến nhau, hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã và vùng nguyên liệu quy mô lớn như một nhu cầu tất yếu của thị trường, thay vì là một phong trào mang tính vận động.

Theo đó, việc thành lập hợp tác xã hay tổ chức lại sản xuất không nên được xem là "điều kiện đầu vào" để được cấp mã số vùng trồng. Thay vào đó, cơ quan quản lý cần chuyển mạnh sang tư duy phục vụ, thực hiện cấp mã theo đề nghị của người dân với quy trình đơn giản, minh bạch và rút gọn tối đa thủ tục hành chính.

Khi một vùng trồng được cấp mã, đủ điều kiện xuất khẩu và tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, chính lợi ích thị trường sẽ trở thành lực hút để người dân tự nguyện liên kết, cùng áp dụng quy trình sản xuất thống nhất, giảm chi phí, nâng cao chất lượng và tăng sức cạnh tranh. Khi ấy, liên kết sản xuất không còn xuất phát từ yêu cầu hành chính mà được dẫn dắt bởi nhu cầu phát triển.

Thực tiễn cho thấy cách tiếp cận này hoàn toàn có cơ sở. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đến giữa tháng 7/2026, cả nước đã cấp 481 mã số vùng trồng và 349 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Từ những mã số này, nhiều vùng nguyên liệu đã đủ điều kiện đưa các mặt hàng như sầu riêng, chuối, bưởi, xoài, mít, thanh long, dừa... chinh phục các thị trường lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU), New Zealand và nhiều quốc gia khác.

Những con số trên cho thấy, mã số vùng trồng không đơn thuần là công cụ quản lý mà đang trở thành "giấy thông hành" giúp nông sản Việt bước vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi lợi ích từ xuất khẩu được nhìn thấy rõ ràng, người sản xuất sẽ chủ động thay đổi tư duy, đầu tư nhiều hơn cho quy trình canh tác và tham gia các mô hình liên kết để duy trì thị trường.

Tuy nhiên, mở rộng số lượng mã số vùng trồng mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là duy trì được chất lượng của vùng nguyên liệu sau khi được cấp mã. Đây cũng là thách thức lớn nhất đối với ngành nông nghiệp hiện nay.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đình Tùng, Lãnh đạo Vina T&T Group chia sẻ, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, số cảnh báo đối với các lô hàng nông sản xuất khẩu tăng thêm 56 vụ so với cùng kỳ năm trước. Điều đó cho thấy, giá trị của mã số vùng trồng không nằm ở thời điểm được cấp mà ở khả năng duy trì việc tuân thủ các tiêu chuẩn trong suốt quá trình sản xuất. Chỉ cần một khâu mất kiểm soát về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng vật tư nông nghiệp không đúng quy định hoặc ghi chép nhật ký canh tác thiếu đầy đủ, cả vùng nguyên liệu có thể đối mặt với nguy cơ bị cảnh báo, thậm chí bị đình chỉ mã số.

Vì vậy, cùng với việc đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, cần xây dựng cơ chế giám sát thường xuyên sau cấp mã. Toàn bộ chuỗi sản xuất phải được kiểm soát đồng bộ, từ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến nhật ký canh tác và hệ thống truy xuất nguồn gốc. Chỉ khi người dân coi việc tuân thủ tiêu chuẩn là điều kiện để giữ thị trường và bảo vệ thu nhập lâu dài, mã số vùng trồng mới thực sự phát huy giá trị.

Trong bối cảnh xuất khẩu nông sản ngày càng phụ thuộc vào các tiêu chuẩn kỹ thuật, tư duy quản lý cũng cần chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", từ tạo rào cản hành chính sang tạo động lực thị trường. Khi đó, mã số vùng trồng sẽ không chỉ là tấm vé để nông sản Việt bước ra thế giới, mà còn là chất xúc tác thúc đẩy liên kết sản xuất, hình thành những vùng nguyên liệu chuyên nghiệp, đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Đức Hiền

Tin liên quan

Tin khác

Nông nghiệp công nghệ cao: Vì sao mô hình hiệu quả vẫn khó nhân rộng?

Nông nghiệp công nghệ cao: Vì sao mô hình hiệu quả vẫn khó nhân rộng?

Từ nhà kính, cảm biến đến thiết bị bay không người lái, công nghệ đang thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, để các mô hình hiệu quả không dừng ở quy mô thử nghiệm, doanh nghiệp và nông dân phải giải được bài toán chi phí đầu tư, nhân lực, thị trường tiêu thụ và dòng tiền hoàn vốn.
Cà phê cùng nông dân: Lắng nghe để tháo gỡ vướng mắc

Cà phê cùng nông dân: Lắng nghe để tháo gỡ vướng mắc

Không cần cuộc họp nặng tính hành chính tròng hội trường, chương trình “Cà phê cùng nông dân” của phường Hòa Xuân (TP. Đà Nẵng) mở ra không gian gần gũi để nông dân trực tiếp chia sẻ khó khăn, kiến nghị với lãnh đạo địa phương. Từ những câu chuyện đời thường, nhiều vấn đề về đất sản xuất, hạ tầng, thủy lợi và chuyển đổi sinh kế được đưa ra trao đổi, tìm hướng tháo gỡ.
Đưa OCOP thành trải nghiệm du lịch

Đưa OCOP thành trải nghiệm du lịch

Phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn cần chuyển từ bán nông sản sang thiết kế trải nghiệm, kết nối sản phẩm OCOP (mỗi làng một sản phẩm) với văn hóa bản địa và xây dựng chuỗi giá trị để tăng chi tiêu, kéo dài thời gian lưu trú, bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân.
Công cuộc tái định hình chuỗi cung ứng nông sản

Công cuộc tái định hình chuỗi cung ứng nông sản

Khi các tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc ngày càng định hình thương mại toàn cầu, năng lực cạnh tranh của nông, lâm sản không còn chỉ nằm ở giá cả hay năng lực cung ứng. Từ quy định của Liên minh châu Âu (EU) về các sản phẩm không gây phá rừng (EUDR) đến những yêu cầu mới tại Vương quốc Anh, sức ép minh bạch cũng mở ra cơ hội để Việt Nam chuẩn hóa chuỗi giá trị và nâng vị thế nông sản trên thị trường quốc tế.
Nông nghiệp công nghệ cao: Cuộc đua không chỉ dành cho người nhiều vốn

Nông nghiệp công nghệ cao: Cuộc đua không chỉ dành cho người nhiều vốn

Từ công nghệ sinh học, kinh tế tuần hoàn, AI, cảm biến đến truy xuất nguồn gốc, cuộc đua nông nghiệp công nghệ cao đang chuyển từ “có ứng dụng công nghệ” sang chứng minh hiệu quả đầu tư. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp tiên phong không chỉ cần năng lực tài chính, công nghệ mà còn phải giải được bài toán thị trường, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng nhân rộng mô hình.
Hơn 200 nhà nông ở Đồng Tháp được hỗ trợ canh tác lúa phát thải thấp

Hơn 200 nhà nông ở Đồng Tháp được hỗ trợ canh tác lúa phát thải thấp

Hơn 200 hộ nông dân đã được hỗ trợ áp dụng phương pháp canh tác lúa phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và quản lý phụ phẩm nông nghiệp theo hướng tuần hoàn.
Nông nghiệp giữ đà tăng trưởng, bài toán lớn ở 4 tháng cuối năm

Nông nghiệp giữ đà tăng trưởng, bài toán lớn ở 4 tháng cuối năm

Sau 8 tháng, nông nghiệp tiếp tục giữ đà tăng trưởng, xuất khẩu đạt 49,3 tỷ USD, nhưng áp lực tăng tốc đang dồn vào những tháng cuối năm.
Công nghệ sinh học trở thành động lực mới cho nền nông nghiệp xanh

Công nghệ sinh học trở thành động lực mới cho nền nông nghiệp xanh

Không chỉ tạo ra những sản phẩm mới, công nghệ sinh học đang mở ra một hướng tiếp cận khác cho nông nghiệp Việt Nam đó là sản xuất nhiều hơn nhưng sử dụng ít tài nguyên hơn, giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học, tận dụng tốt hơn phụ phẩm và nâng giá trị nông sản ngay từ đồng ruộng. Khi yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển xanh ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc của thị trường, đây được xem là một trong những chìa khóa để nông nghiệp chuyển từ tư duy “tăng sản lượng” sang “tăng giá trị”.
Tăng tốc chống khai thác IUU, siết chặt đội tàu

Tăng tốc chống khai thác IUU, siết chặt đội tàu

Đà Nẵng đang bước vào giai đoạn cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), tập trung rà soát đội tàu, kiểm soát hoạt động khai thác, truy xuất nguồn gốc và xử lý nghiêm vi phạm. Đây được xem là bước quan trọng để TP. Đà Nẵng cùng cả nước khắc phục các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC), hướng tới gỡ “thẻ vàng” thủy sản ngay trong năm 2026.
Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Đầu ra thiếu ổn định, sản xuất nhỏ lẻ, liên kết với doanh nghiệp chưa bền vững và khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế đang là những “nút thắt” của nông nghiệp Đà Nẵng. Thành phố đang tìm cách đưa khoa học công nghệ, chuyển đổi số đến gần hơn với nông dân, đồng thời tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường.