Chỉ số kinh tế:
Ngày 15/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.617 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.387/26.847 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Đơn giản hóa TTHC về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

PL
PL  - 
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
aa
Đơn giản hóa TTHC về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Đơn giản hóa TTHC về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Nghị quyết này điều chỉnh, bổ sung một số quy định về nguyên tắc, hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói (Nghị định số 38/2026/NĐ-CP) để đơn giản hóa thủ tục hành chính cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng

Về nguyên tắc đơn giản hóa thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, Nghị quyết nêu rõ, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm, giảm thời gian, giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục hành chính, không phát sinh thủ tục hành chính mới, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, bảo đảm công khai, minh bạch, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất, đóng gói sản phẩm cây trồng.

Thực hiện thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, truy xuất nguồn gốc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỉ thực hiện tiền kiểm đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất hình thành vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn để cấp mã số vùng trồng.

Một số quy định về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Nghị quyết quy định mã số vùng trồng theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Trồng trọt được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15 được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất theo đề nghị của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân). Mã số vùng trồng không xác lập, không thay thế quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân.

Vị trí thửa đất được xác định theo mã định danh của thửa đất trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trường hợp thửa đất đề nghị cấp mã số vùng trồng chưa có hoặc chưa thể khai thác mã định danh thửa đất thì tổ chức, cá nhân đề nghị cấp mã số vùng trồng tự kê khai về diện tích và vị trí, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo thực hiện xác nhận thông tin trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm.

Dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung trên Hệ thống xử lý nghiệp vụ và công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; được kết nối, chia sẻ với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các hệ thống cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.

Hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói gồm:

- Đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết này.

- Đơn đề nghị cấp mã số cơ sở đóng gói theo Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Trình tự cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đến Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi có địa chỉ vùng trồng, cơ sở đóng gói) thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia.

Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo Mẫu tại Phụ lục III, Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này; trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra và ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo Mẫu tại Phụ lục III, Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này; phê duyệt ngay mã số đối với trường hợp nước nhập khẩu đồng ý để cơ quan có thẩm quyền Việt Nam tự phê duyệt; trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Đối với trường hợp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải được nước nhập khẩu phê duyệt, cơ quan chuyên môn đầu mối cấp tỉnh tổng hợp, gửi danh sách về Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, gửi nước nhập khẩu xem xét, phê duyệt; trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu khác về thời gian gửi danh sách này thì thực hiện theo yêu cầu của nước nhập khẩu.

Nội dung kiểm tra bao gồm kiểm tra thông tin kê khai trong hồ sơ, việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Biên bản kiểm tra theo Mẫu tại Phụ lục VI (đối với vùng trồng) hoặc Phụ lục VII (đối với cơ sở đóng gói) ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Trường hợp vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số muốn đăng ký bổ sung thị trường xuất khẩu thì nộp đơn theo Mẫu tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này; trình tự thực hiện theo điểm a, điểm c khoản 2 Điều này nhưng giữ nguyên mã số đã được cấp trong Thông báo cấp/cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Trường hợp thay đổi thông tin liên quan đến tên tổ chức, cá nhân đại diện mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói hoặc do việc thay đổi địa giới hành chính thì tổ chức, cá nhân nộp đơn đề nghị cấp lại theo Mẫu tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị quyết này. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận đơn đề nghị cấp lại của tổ chức, cá nhân, Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, xem xét và thông báo cho tổ chức, cá nhân theo Mẫu tại Phụ lục III, Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này; trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Trường hợp Cổng dịch vụ công quốc gia gặp sự cố không thể tiếp nhận và xử lý hồ sơ trên môi trường mạng hoặc tổ chức, cá nhân không thể nộp hồ sơ trên môi trường mạng, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận hồ sơ bằng bản giấy (nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện); việc cấp mã số được thực hiện theo quy định trên và thông tin phải được cập nhật lên Cổng dịch vụ công quốc gia ngay sau khi Cổng dịch vụ công quốc gia hoạt động bình thường.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31 tháng 7 năm 2026 đến khi Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ có hiệu lực thi hành.

PL
VGP News

Tin liên quan

Tin khác

VNTAX 2026: 200 doanh nghiệp đóng gần 1 triệu tỷ đồng

VNTAX 2026: 200 doanh nghiệp đóng gần 1 triệu tỷ đồng

Chiều 15/9, Lễ vinh danh các doanh nghiệp nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (VNTAX 2026) và Tọa đàm “Kiến tạo nguồn lực tăng trưởng quốc gia: Vai trò của doanh nghiệp dẫn đầu trong kỷ nguyên mới” chính thức diễn ra tại Hà Nội. Những con số được công bố cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực doanh nghiệp đối với nguồn lực quốc gia, trong đó doanh nghiệp tư nhân đang thu hẹp nhanh khoảng cách với khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Ngành xây dựng Việt Nam tăng tốc, tín nhiệm doanh nghiệp phân hóa

Ngành xây dựng Việt Nam tăng tốc, tín nhiệm doanh nghiệp phân hóa

Ngành xây dựng Việt Nam đang hưởng lợi từ giải ngân đầu tư công tăng tốc, thị trường nhà ở phục hồi và môi trường pháp lý thuận lợi hơn. Tuy nhiên, giá vật liệu, nhân công và chi phí vốn gia tăng khiến biên lợi nhuận chịu sức ép, dòng tiền phân hóa. Trong cuộc đua chuyển backlog (giá trị các hợp đồng hoặc khối lượng công việc doanh nghiệp đã ký kết nhưng chưa hoàn thành, chưa ghi nhận hết vào doanh thu) thành doanh thu, các nhà thầu lớn đang có nhiều lợi thế hơn về triển khai dự án, đàm phán và khả năng trả nợ.
Chăn nuôi Việt Nam đối mặt thách thức phát triển hiệu quả, hiện đại và bền vững

Chăn nuôi Việt Nam đối mặt thách thức phát triển hiệu quả, hiện đại và bền vững

Ngành chăn nuôi Việt Nam đạt quy mô lớn, nhưng sức ép cạnh tranh với hàng nhập khẩu và yêu cầu xanh hóa đang buộc ngành phải chuyển sang mô hình phát triển hiệu quả, hiện đại và bền vững hơn.
Từ rơm rạ bỏ đi đến sản phẩm triệu đô trên Amazon

Từ rơm rạ bỏ đi đến sản phẩm triệu đô trên Amazon

Từ phụ phẩm thường bị đốt bỏ trên đồng ruộng, rơm rạ được Nguyễn Xuân Tài (Thanh Hoá) phát triển thành mồi nhóm lửa, đưa lên Amazon và tiếp cận khách hàng quốc tế, mở ra hướng gia tăng giá trị phụ phẩm nông nghiệp bằng kinh tế tuần hoàn.
Logistics Việt Nam trước bài toán tái cấu trúc thể chế

Logistics Việt Nam trước bài toán tái cấu trúc thể chế

Sự bứt phá nhanh chóng của ngành logistics Việt Nam trong những năm gần đây đang đặt ra một bài toán không nhỏ đối với hệ thống pháp lý: Dù các quy định về hải quan, thuế, bảo hiểm, vận tải và giao thông từng bước được hoàn thiện, nhưng khi đi vào vận hành thực tế, chuỗi cung ứng lại bộc lộ không ít điểm nghẽn do các chính sách còn được xây dựng theo từng lĩnh vực, trong khi logistics là một hệ thống liên kết xuyên suốt từ sản xuất, kho bãi, vận tải đến thông quan và phân phối.
PCI 2.0: Từ chất lượng điều hành đến hiệu quả kinh tế tư nhân

PCI 2.0: Từ chất lượng điều hành đến hiệu quả kinh tế tư nhân

Việc bổ sung Chỉ số Hiệu quả kinh tế tư nhân (BPI) vào Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) mở rộng đáng kể góc nhìn về môi trường kinh doanh, khi hiệu quả cải cách được xem xét cùng khả năng đầu tư, đổi mới và phát triển của khu vực tư nhân.
Xuất khẩu tăng tốc, lốp xe Việt Nam đứng trước rủi ro

Xuất khẩu tăng tốc, lốp xe Việt Nam đứng trước rủi ro 'hứng đòn' phòng vệ thương mại

Tăng trưởng xuất khẩu lốp xe tải, xe khách mạnh mẽ của Việt Nam đang giúp sản phẩm này mở rộng thị phần tại Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU), nhưng cũng gia tăng rủi ro có thể bị áp đặt các chính sách phòng vệ thương mại.
"Con đường" để doanh nghiệp nội địa khẳng định giá trị trong chuỗi cung ứng

"Con đường" để doanh nghiệp nội địa khẳng định giá trị trong chuỗi cung ứng

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng trưởng mạnh, khẳng định sức hút của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, sau nhiều năm thu hút vốn ngoại, bài toán lớn vẫn chưa được giải quyết triệt để là làm sao để khu vực doanh nghiệp trong nước thực sự tham gia sâu vào chuỗi giá trị, hấp thụ công nghệ và tạo ra hiệu ứng lan tỏa bền vững cho nền kinh tế.
Ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ: Cơ hội hay áp lực mới?

Ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ: Cơ hội hay áp lực mới?

Cách đây vài năm, khi nhắc đến trí tuệ nhân tạo (AI), nhiều chủ doanh nghiệp nhỏ cho rằng đó là câu chuyện của các tập đoàn lớn với ngân sách khổng lồ và đội ngũ công nghệ chuyên sâu. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, AI đã xuất hiện ngay trên chiếc điện thoại, trong phần mềm làm việc hằng ngày và thậm chí trong cả những công cụ miễn phí mà bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận.
Xuất khẩu phân bón vượt 1 tỷ USD, doanh nghiệp giảm dần phụ thuộc

Xuất khẩu phân bón vượt 1 tỷ USD, doanh nghiệp giảm dần phụ thuộc

Năng lực sản xuất một số loại phân bón vượt nhu cầu trong nước khiến xuất khẩu ngày càng trở thành kênh quan trọng để duy trì công suất và nâng hiệu quả đầu tư. Khi Campuchia - thị trường truyền thống lớn nhất - có dấu hiệu chững lại, doanh nghiệp Việt đang đứng trước yêu cầu mở rộng thị trường và thay đổi cách cạnh tranh.